Đô thị hóa và bài toán đồng bộ còn bỏ ngỏ

Đô thị hóa và bài toán đồng bộ còn bỏ ngỏ

(Luật sư Nguyễn Hữu Phước – Công ty luật Phuoc & Partners)

Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển với nhịp độ nhanh và quy mô lớn. Hạ tầng giao thông được mở rộng, đô thị mọc lên nhanh chóng và liên tục, luật pháp ngày càng đầy đủ và chi tiết hơn. Nhìn từ các báo cáo vĩ mô, bức tranh phát triển có nhiều gam sáng. Tuy nhiên, nếu nhìn từ trải nghiệm hàng ngày của người dân và doanh nghiệp, không khó để nhận ra những bất cập quen thuộc lặp đi lặp lại. Điều đáng suy ngẫm là phần lớn những bất cập này không xuất phát từ thiếu nguồn lực hay thiếu nỗ lực, mà từ cách chuẩn bị, phối hợp và thực thi chưa đồng bộ.

Nhiều người từng chứng kiến một cây cầu được xây dựng hoàn chỉnh, khánh thành đúng tiến độ, nhưng hai đầu cầu lại chưa có đường dẫn. Cầu đẹp, chắc chắn, nhưng không thể sử dụng đúng nghĩa. Có nơi cầu nối qua sông đã xong nhiều năm, trong khi đường kết nối phía bên kia vẫn là đường đất hoặc chưa giải phóng xong mặt bằng. Khi được hỏi, lý do thường rất hợp lý về mặt quản lý. Dự án được chia thành nhiều gói thầu, nhiều nguồn vốn, nhiều cấp quản lý. Mỗi bên đều hoàn thành phần việc của mình đúng quy trình nhưng người dân không sống trong quy trình mà sống trong kết quả. Khi kết quả chưa đến, sự lãng phí là điều khó tránh khỏi, dù không ai cố ý làm sai.

Tình trạng đường vừa làm xong đã bị đào lên cũng diễn ra phổ biến. Một tuyến đường mới thảm nhựa phẳng phiu, chỉ sau một thời gian ngắn đã bị xẻ dọc xẻ ngang để lắp đặt hoặc sửa chữa hệ thống cấp nước, thoát nước, cáp viễn thông. Sau khi vá lại, mặt đường không còn nguyên vẹn, mưa xuống dễ đọng nước, xe cộ đi lại khó khăn. Các đơn vị liên quan đều có lý do chính đáng, nhưng khi không có một lịch trình chung ngay từ đầu, xã hội phải trả chi phí nhiều lần cho cùng một đoạn đường, còn người dân thì dần quen với cảnh đào lên rồi vá lại như một thói quen khó thay đổi.

Ở nhiều khu dân cư đông đúc, có những con đường nhỏ hẹp, xuống cấp, lưu lượng giao thông lớn, thường xuyên ùn tắc vào giờ cao điểm, người dân kiến nghị mở rộng suốt nhiều năm nhưng chưa được triển khai vì vướng quy hoạch, vướng mặt bằng, thiếu vốn hoặc chưa nằm trong kế hoạch đầu tư. Trong khi đó, ở những khu vực khác, những con đường còn khá mới, mặt đường còn tốt, lưu lượng giao thông chưa cao, lại được bóc lên làm mới khang trang. Tình trạng tương tự cũng diễn ra với vỉa hè. Có những đoạn vỉa hè còn sử dụng tốt nhưng vẫn bị đào lên để lát lại toàn bộ theo mẫu mới, gây xáo trộn sinh hoạt, ảnh hưởng đến kinh doanh nhỏ lẻ và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho người đi bộ. Khi đặt cạnh những tuyến đường quá tải chưa được đầu tư, cảm giác thiếu hợp lý trong thứ tự ưu tiên trở nên rất rõ.

Một bất cập ngày càng rõ nét hơn là tình trạng nhiều tuyến đường phải gồng gánh số lượng chung cư vượt xa năng lực giao thông ban đầu. Có những con đường được thiết kế từ nhiều năm trước chỉ để phục vụ khu dân cư thấp tầng, nhưng sau đó dọc hai bên đường liên tiếp mọc lên các dự án chung cư cao tầng. Mỗi tòa nhà đưa vào sử dụng kéo theo hàng trăm hoặc hàng nghìn cư dân mới, cùng lượng xe cá nhân, xe dịch vụ và xe giao hàng tăng mạnh. Tuyến đường vốn đã hẹp nay phải chịu tải vượt khả năng thiết kế, dẫn đến ùn tắc kéo dài vào giờ cao điểm, tiếng ồn gia tăng và nguy cơ tai nạn cao hơn.

Trong nhiều trường hợp, từng dự án riêng lẻ đều đáp ứng đủ các điều kiện pháp lý khi được cấp phép. Chủ đầu tư làm đúng quy hoạch chi tiết, đúng hệ số xây dựng, đúng nghĩa vụ tài chính. Tuy nhiên, tác động cộng dồn của nhiều dự án lên cùng một trục giao thông lại chưa được đánh giá đầy đủ. Mỗi dự án có thể chỉ làm tăng áp lực một phần, nhưng khi cộng lại, áp lực đó trở thành quá tải. Khi chung cư đã xây xong và dân cư đã ổn định, việc mở rộng đường gần như bất khả thi vì chi phí giải tỏa quá lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân.

Trong các khu đô thị mới, bất cập còn thể hiện ở sự mất cân đối giữa nhà ở và hạ tầng xã hội. Chung cư cao tầng được xây dựng nhanh, dân số tăng mạnh, nhưng trường học, bệnh viện, công viên công cộng lại đến chậm hoặc không đủ. Trẻ em học ca tối, người già thiếu không gian xanh, bệnh viện gần nhà luôn quá tải. Chủ đầu tư có thể đã làm đúng quy hoạch được duyệt, chính quyền có thể đang chờ nguồn lực bổ sung, nhưng với cư dân, chất lượng sống bị ảnh hưởng là điều rất thực tế.

Cây xanh là một ví dụ khác cho thấy sự lệch pha giữa mục tiêu và thực tế. Về lý thuyết, cây xanh đô thị có chức năng che nắng, giảm nhiệt, lọc không khí và cải thiện sức khỏe cộng đồng. Nhưng trong thực tế, không khó để bắt gặp những hàng cây bị chặt trơ trọi sau khi mở đường hoặc chỉnh trang đô thị, rồi để đó trong thời gian dài mà chưa được trồng thay thế tương xứng. Có nơi cây bị đốn bỏ vì lý do kỹ thuật hoặc an toàn, nhưng việc trồng mới lại diễn ra chậm chạp, hoặc trồng cho có hình thức với những cây non nhỏ khó có thể phát huy tác dụng trong nhiều năm. Thành phố mất bóng mát, mất lớp đệm sinh thái, trong khi người dân phải đối mặt trực tiếp với nắng nóng, bụi và ô nhiễm. Nếu nhìn công bằng, quản lý cây xanh là bài toán khó, liên quan đến hạ tầng ngầm và an toàn đô thị. Nhưng khi cây đã bị chặt mà không có lộ trình trồng lại tương xứng rõ ràng, cảm giác mất mát trong không gian sống là điều rất dễ thấy.

Lĩnh vực y tế bộc lộ một nghịch lý khác. Các bệnh viện tuyến trên ở đô thị lớn luôn quá tải, giường bệnh kê thêm ở hành lang, người nhà phải túc trực ngày đêm. Trong khi đó, tại một số địa phương, những bệnh viện mới xây dựng khang trang lại hoạt động cầm chừng hoặc bỏ hoang vì thiếu bác sĩ, thiếu máy móc kỹ thuật cao, thiếu cơ chế tài chính, thiếu mô hình vận hành phù hợp. Xây dựng bệnh viện là điều cần thiết, nhưng một bệnh viện không thể vận hành chỉ bằng cơ sở vật chất. Khi con người và cơ chế không được chuẩn bị đồng bộ, xã hội vừa thiếu nơi chữa bệnh, vừa lãng phí những công trình đã hoàn thành.

Trong đầu tư xây dựng, không ít dự án giao thông khởi công rầm rộ rồi phải dừng lại hoặc thi công cầm chừng vì thiếu cát và vật liệu xây dựng. Lý do được đưa ra là nguồn cung khan hiếm, giá biến động hoặc thủ tục cấp phép mỏ chậm. Những yếu tố này có phần khách quan. Tuy nhiên, cát, đá và đất đắp là đầu vào cơ bản đã được biết trước ngay từ giai đoạn lập dự án. Khi thiếu vật liệu chỉ được nêu ra sau khi đã khởi công, xã hội phải trả giá bằng tiến độ kéo dài, chi phí đội lên và những bất tiện kéo dài cho người dân sống xung quanh công trình.

Trong quản lý môi trường đô thị, việc phân loại rác tại nguồn là một ví dụ điển hình khác. Quy định đã có, hướng dẫn cũng không thiếu, thậm chí chế tài xử phạt cũng đã được ban hành. Tuy nhiên, trong thực tế, việc thực thi còn rất lỏng lẻo. Nhiều người dân vẫn đổ chung các loại rác vì không thấy sự khác biệt trong khâu thu gom và xử lý. Việc kiểm tra, nhắc nhở và xử phạt hầu như không đáng kể, khiến quy định tồn tại nhiều hơn trên giấy. Khi luật ban hành mà không được thực thi nghiêm túc, người dân khó hình thành thói quen mới, còn mục tiêu bảo vệ môi trường thì khó đạt được, dù chủ trương là đúng.

Trong lĩnh vực hành chính công, cải cách và số hóa là hướng đi đúng, nhưng trải nghiệm thực tế của người dân chưa tương xứng. Nhiều thủ tục được đưa lên trực tuyến, nhưng người dân vẫn phải in hồ sơ giấy, vẫn phải đi lại để đối chiếu, vẫn phải chờ vì hệ thống chưa liên thông hay bị lỗi. Những chi tiết nhỏ lặp đi lặp lại hàng ngày không gây bức xúc lớn ngay lập tức, nhưng tích tụ dần thành sự mệt mỏi và làm giảm niềm tin vào cải cách.

Ở tầng sâu hơn, hệ thống pháp luật ngày càng nhiều và chi tiết, nhưng giám sát thực thi và chế tài chưa theo kịp. Có nơi áp dụng rất chặt, nơi khác lại linh hoạt đến mức gần như bỏ ngỏ. Lâu dần, người dân và doanh nghiệp hình thành tâm lý lờn luật. Ngược lại, quy định quá chặt và trách nhiệm cá nhân bị siết mạnh khiến nhiều cán bộ chọn cách làm việc phòng thủ, không dám chủ động giải quyết những tình huống mới.

Quy hoạch là lĩnh vực thể hiện rõ nhất sự thiếu ổn định. Có những khu dân cư bị treo quy hoạch nhiều năm, người dân không thể sửa nhà, không dám đầu tư. Có nơi quy hoạch thay đổi liên tục, từ công viên sang thương mại rồi sang nhà ở. Không thể phủ nhận rằng quy hoạch cần điều chỉnh để phù hợp với thực tế phát triển, nhưng điều chỉnh quá thường xuyên và thiếu minh bạch sẽ làm mất niềm tin và gia tăng rủi ro xã hội.

Những bất cập kể trên nếu nhìn riêng lẻ đều có thể được giải thích bằng những lý do hợp lý như nguồn lực hạn chế, nhu cầu thay đổi nhanh, hay yêu cầu kiểm soát chặt chẽ để phòng ngừa sai phạm. Những phản biện này là cần thiết để giữ cái nhìn công bằng. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng và bộ máy quản lý đang chịu áp lực lớn trong giai đoạn chuyển mình. Tuy nhiên, khi các bất cập lặp lại trong thời gian dài và xuất hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau, đó không còn là vấn đề cá biệt mà là dấu hiệu của những điểm nghẽn mang tính hệ thống.

Từ thực tế đó, bài học quan trọng nhất nằm ở tư duy quản trị theo kết quả cuối cùng và theo sức chịu tải của hạ tầng. Mỗi quyết định đầu tư, mỗi dự án, mỗi quy hoạch đều cần được đánh giá không chỉ ở khâu phê duyệt riêng lẻ, mà ở tác động cộng dồn lên không gian sống, giao thông, môi trường và dịch vụ công. Một dự án chỉ nên khởi công khi các điều kiện cơ bản như mặt bằng, vật liệu, nhân lực và phương án vận hành đã được chuẩn bị tương đối đầy đủ. Việc cho phép tăng mật độ xây dựng cần gắn chặt với năng lực hạ tầng thực tế, đặc biệt là giao thông và môi trường.

Trong pháp luật và hành chính, điều xã hội cần không phải là thêm thật nhiều quy định, mà là thực thi nhất quán, minh bạch và tạo không gian hợp lý để người thực thi dám chủ động làm đúng. Cải cách chỉ có ý nghĩa khi người dân thực sự tiết kiệm được thời gian và chi phí. Quy hoạch chỉ có giá trị khi đủ ổn định để người dân yên tâm lập kế hoạch sống và đầu tư.

Người dân Việt Nam được cho là có khả năng thích nghi rất cao, nhưng sự thích nghi ấy không đồng nghĩa với sự hài lòng. Kỳ vọng của xã hội không phải là sự hoàn hảo, mà là sự hợp lý, đồng bộ và có trách nhiệm. Khi những con đường không còn phải gồng gánh quá sức, những cây cầu không còn đứng cô đơn, những hàng cây được trồng lại đúng nghĩa, rác được phân loại và xử lý nghiêm túc, những bệnh viện được xây lên để thực sự chữa bệnh, và pháp luật được tôn trọng vì được thực thi công bằng, niềm tin xã hội sẽ tăng lên. Và chính niềm tin đó mới là nền tảng vững chắc nhất cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Bài viết này của tôi được viết trên cơ sở dựa trên những kiến thức pháp luật mà tôi đã được học cũng như những kinh nghiệm chuyên môn trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé www.phuoc-partner.com. Cám ơn bạn rất nhiều.