20 yếu tố ảnh hưởng đến độ phức tạp của một bản nhạc piano

67

Nguyễn Hữu Phước sưu tập và biên soạn lại dựa trên kinh nghiệm học piano của mình.

Để biết một bản nhạc có độ phức tạp đến đâu để quyết định xem bản nhạc đó có phù hợp với trình độ của bạn tại thời điểm đó hay không là một việc không kém phần quan trọng bởi vì nếu bạn xác định không chính xác thì sẽ dẫn đến một trong hai trường hợp sau đây: (1) bản nhạc mà bạn chọn có kỹ thuật thấp hơn trình độ của bạn và sẽ làm cho bạn không cảm thấy bài nhạc đó hay, dẫn đến bạn sẽ không thấy được thành quả của mình trong việc tập thành công bản nhạc đó; hoặc (2) nếu bạn chọn bản nhạc có kỹ thuật phức tạp quá sức mình thì bạn sẽ không thể tập cho ra được bản nhạc đó dù đã hết sức cố gắng trong một thời gian dài, dẫn đến bạn có xu hướng chán nản muốn bỏ cuộc giữa chừng.

Nói chung, có 20 yếu tố phổ biến nhất được xếp trong 3 nhóm chính từ cao độ, trường độ và cường độ được liệt kê dưới đây mà trong một chừng mực nào đó có ảnh hưởng đến độ phức tạp của một bản nhạc. Dựa vào các yếu tố đó, bạn nên biết lượng sức mình khi chọn một bản nhạc để tập. Nếu không chắc chắn là mình có đủ khả năng tập thành công bài nhạc đó thì bạn nên tham khảo ý kiến của thầy dạy piano của bạn trước nhé.

Cao độ

  • Các nốt nhạc rời rạc và thường cách nhau quá xa hơn một quãng 8 cũng như không nằm tập trung trong khu vực giữa của khuông nhạc nơi rất thuận tiện cho đôi tay của bạn cho nên chúng sẽ làm cho bạn vừa phải đão mắt liên tục từ bên này sang bên khác để theo kịp với các nốt nhạc cho nên bạn sẽ không thể quan sát các ngón tay của bạn phải di chuyển theo các nốt nhạc đó.
  • Giai điệu đi quá xa khỏi khu trung tâm của đàn piano, đó là vị trí chơi quen thuộc của bạn, làm cho bạn không biết làm cách nào để có thể trở về lại vị trí ban đầu hay bạn không kịp phản xạ để quay trở về khu trung tâm.
  • Bản nhạc có từ 04 dấu thăng (#) và/hoặc giáng (b) trở lên và đôi khi trong cùng một bản nhạc lại có sự thay đổi dấu thăng, giáng (ví dụ như từ Am ở phiên khúc chuyển thành A ở điệp khúc).
  • Tay trái của bạn không lặp lại theo mẫu của các âm hình đệm phổ biến mà là sự nối dẫn từ hợp âm này sang hợp âm khác qua đường đi của các nốt bass, hay trong trường hợp bạn không thể nhận diện ra được mẫu âm hình đệm ổn định nào cả.
  • Tay phải của bạn không phải chỉ bấm có một nốt đơn mà là cả một chùm nhiều nốt của các hợp âm 3 và hợp âm 4 nốt cùng một lúc và liên tục từ hợp âm này sang hợp âm khác theo sự hòa âm của tác giả, gây ra khó khăn cho bạn trong việc xếp ngón, phản xạ kịp thời cho việc đọc nhiều nốt nhạc tại cùng một thời điểm.
  • Bạn chưa từng biết qua bài nhạc mà bạn dự định tập cho nên bạn sẽ không có cảm xúc với bài nhạc và không biết hết được đâu là các nốt của giai điệu chính của bài nhạc và đâu là các nốt làm chức năng nối, dẫn, lấp chỗ trống từ câu, chi câu này sang câu, chi câu khác. 
  • Không phải lúc nào tay trái của bạn cũng đảm nhiệm phần bass và mẫu âm hình đệm và tay phải thì phụ trách phần giai điệu và sắc thái. Trong thực tế, vai trò của hai bàn tay của bạn sẽ còn nhiều cách chơi khác nữa mặc dù cách ở trên là phổ biến và dùng nhiều nhất. Chẳng hạn như bạn sẽ làm ngược lại, theo đó tay trái của bạn sẽ chơi giai điệu, còn tay phải lại đệm hợp âm, hay cũng có trường hợp cả hai tay của bạn đều có vai trò như nhau một cách đồng thời, không tay nào đi theo một mẫu âm hình cố định nào cả.
  • Bạn phải chơi những nốt nhạc đồng thời ở các quãng 9, quãng 10 thay vì quãng 8, nhưng các ngón tay của bạn thì lại ngắn nên dù có cố gắng thì cũng không thể giãn ra xa được, cho nên sẽ không phù hợp với bài nhạc. Nếu phải bỏ nốt nhạc đó ra thì lại mất chất của bài nhạc, mà muốn chơi cho đủ nốt thì bạn lại lực bất tòng tâm.
  • 2 bàn tay của bạn buộc phải đan xen với nhau liên tục nhưng lại không theo một quy luật nào cả và cũng không có motif của tiết tấu nào để dễ nhớ.
  • Bản nhạc dài (thường là từ 4 trang giấy A 4 trở lên) và lại khó nhớ. Hay dù cho bản nhạc có ngắn đi chăng nữa nhưng mỗi lần lặp lại thì lại sự biến tấu một chút, và điều này sẽ làm cho bạn dễ bị nhầm lẫn đoạn này sang đoạn kia.
  • Bản nhạc có nhiều nốt nhạc hoa mỹ có hoặc không có được tính vào trường độ tại vị trí ô nhạc đó đan xen chi chít trong các nốt nhạc của giai điệu chính mà làm cho bạn gặp khó khăn trong việc điều khiển các ngón tay.
  • Bản nhạc có khóa Sol chơi móc kép còn khóa Fa thì chơi liên 3 móc kép và ngược lại.
  • Bản nhạc có nhiều dấu liên 3, liên 5, liên 7, 11, 20, 22 (thường có nhiều trong các bài nhạc của Chopin) mà bạn không tài nào có thể chia nhịp một cách chuẩn nhất theo tính chất vật lý được.

    Trường độ
  • Thông thường, bạn sẽ có xu hướng bắt theo nhịp, cảm nhịp tốt với những tiết tấu được lặp đi lặp lại theo một motif nào đó, và sẽ không quen với sự biến thiên liên tục của tiết tấu. Tuy nhiên, tiết tấu của bản nhạc mà bạn chọn lại quá đa dạng (chẳng hạn như bản nhạc có nhiều móc kép, liên 3 móc đơn, liên ba nốt đen đan xen với nhau) và thay đổi liên tục, cũng như các nốt nhạc lại không đi theo một motif cố định nào cả).
  • Điệu nhạc đã chọn của bản nhạc có tốc độ quá nhanh (chẳng hạn như các điệu Valse, Fox, Disco..) so với khả năng phản xạ có giới hạn của các ngón tay và não của bạn.
  • Bản nhạc sử dụng kỹ thuật đão và nghịch phách nhiều và liên tục: có nhiều dấu lặng và dấu nối liên hoàn trong khi trình độ giữ nhịp của bạn thì lại chưa tốt.
  • Bản nhạc có nhiều móc tam và móc tứ trong các chùm nốt dày đặc mà góp phần làm cho việc xếp ngón tay của bạn gặp nhiều khó khăn và khả năng của bạn không đảm bảo được tốc độ theo yêu cầu của bản nhạc.    

    Cường độ
  • Có những câu chạy ngón (fill-in) lắt léo trong khi khả năng tự xếp ngón và duy trì sự tập trung của bạn trong một thời gian dài để đi hết câu chạy ngón là có hạn.
  • Yêu cầu của kỹ thuật Rubato trong nhạc cổ điển tức là là bạn sẽ từ bỏ tạm thời nhịp độ nghiêm ngặt và được phép linh hoạt hơn với nhịp độ theo cảm xúc của bạn và bạn có thể tăng tốc hoặc giảm tốc độ để tạo hiệu ứng và nhấn mạnh một số đoạn âm nhạc nhất định nào đó.
  • Bản nhạc có nhiều ký hiệu âm nhạc về cường độ, tức là độ vang của âm thanh (ký hiệu chỉ sắc thái thường hay được ký hiệu bằng tiếng Ý từ rất nhẹ, nhẹ, mạnh vừa, mạnh, rất mạnh, cực mạnh, mạnh dần lên, nhẹ dần lại, bớt lại, lịm dần, tắt dần, mạnh đột ngột, nhấn buông, mạnh mà rời, nhấn, ngắt, luyến, âm tô điểm…) và thay đổi thường xuyên làm thay đổi sắc thái của bản nhạc.
  • Tổng hợp

Bản nhạc có sự kết hợp của một số hay tất cả các vấn đề được nêu trong 19 yếu tố ở trên.