-Advertisment-
27 C
Ho Chi Minh City
Trang ChủÂm NhạcSử dụng 6 kỹ thuật biểu diễn nốt nhạc: Legato, Non Legato,...

Sử dụng 6 kỹ thuật biểu diễn nốt nhạc: Legato, Non Legato, Staccato, Glissando, Marcato và Arpeggio

- Advertisement -
- Advertisement -

Khi chơi bất kỳ bản nhạc piano nào dù là nhạc cổ điển hoặc theo phong cách nhạc nhẹ, bạn đều phải sử dụng đến nhiều kỹ thuật trong đó có 6 kỹ thuật biểu diễn các nốt nhạc chính đó là Legato, Non Legato, Staccato, Glissando, Marcato và Arpeggio …. Do đó, việc tìm hiểu 6 kỹ thuật biểu diễn này là một trong những điều cơ bản mà bạn cần biết khi học đàn piano.

  • Chơi Legato

Legato là từ tiếng Ý có nghĩa là “gắn liền với nhau”. Chơi Legato tức là chơi liền tiếng đàn, kết nối những nốt nhạc liên tiếp và nhịp nhàng, không bị tạm dừng, hay có thể nói một cách khác đó là đừng nâng nốt đầu lên cho tới khi nốt tiếp theo được chơi xuống. Thông thường kỹ thuật Legato sẽ được sử dụng ở các nốt nhạc trong một câu (hay trong 1 ý nhạc hay trong 1 dấu luyến).

Đặc điểm của kỹ thuật Legato đó là: cánh tay và cổ tay của người chơi ít chuyển động, chủ yếu chỉ là sự chuyển động bằng đầu ngón tay. Ngón tay tròn, nhấc cao mỗi ngón tay trước khi bổ xuống phím. Khi nốt số tiếp theo đánh xuống thì mới được nhấc ngón của nốt đầu lên nhưng không để bị dính các nốt lại với nhau.

Bất cứ lúc nào nhìn thấy một dấu luyến (slur) hoặc một đường cong dưới hoặc đường cong trên các nốt, nó có nghĩa là người chơi cần chơi các nốt đó bằng kỹ thuật Legato.

  • Chơi Non Legato

Non Legato còn được gọi là Porto, Portamento, Semi-Staccato, Mezzo-Staccato Hay Staccato Slurred.

Chơi Non Legato tức là chơi làm sao để có thể ngắt rời từng nốt nhạc, hay nói một cách khác đó là nhóm các nốt cần chơi sẽ không được chơi liên tục mà phải có sự tạm dừng giữa mỗi nốt. Trong bản nhạc, kỹ thuật Non Legato thường được chơi ở các vị trí sau: nốt cuối câu, nốt cuối ý, cuối dấu luyến, giữa hai nốt giống nhau. 

Đặc điểm của kỹ thuật Non Legato là đòi hỏi người chơi phải thả lỏng và nhấc cổ tay, vắt âm thanh qua giữa các nốt, giữa các câu, giữa các phần của bản nhạc. Ngón tay tròn như móc vào phím đàn, chuyển động chủ yếu là ở cánh tay, khuỷu tay và cổ tay thay vì ngón tay. Khi nhấc cổ tay lên thì cổ tay phải được thả lỏng hoàn toàn, bàn tay rủ xuống, cơ thể ở trạng thái thư giãn, thả lỏng hoàn toàn.

Kỹ thuật Non Legato được biểu thị bằng dấu gạch dài trên đầu của nốt cần chơi.

  • Chơi Staccato

Staccato là một từ tiếng Ý có nghĩa là ‘tách rời’.

Staccato được chơi tương tự như kỹ thuật Non Legato, nhưng có âm thanh nghe có vẻ sắc nét và trường độ ngắn hơn. Người chơi cần nẩy, sắc gọn tiếng đàn. Theo đó, ngón tay của người chơi phải tròn và đặt chạm vào bàn phím, cổ tay và cánh tay thả lỏng trong tích tắc rất nhanh và bật mạnh ngón tay móc vào phím đàn tạo ra âm thanh của các nốt chỉ là điểm tích sắc gọn.

Kỹ thuật Staccato có thể được phân loại thành ba kiểu sau: (i) Staccato ngón tay; (ii) Staccato cổ tay; và (iii) Staccato cánh tay. Khi người chơi tiến dần từ kiểu (i) đến kiểu (ii), nhiều trọng lượng hơn sẽ được thêm vào đằng sau ngón tay; cho nên, kiểu (i) sẽ cho ra Staccato nhẹ nhất, nhanh nhất và hữu ích để chơi các nốt nhẹ và có tốc độ nhanh, kiểu (iii) mang đến cảm giác nặng nhất và hữu ích khi chơi các đoạn to tiếng và hợp âm với nhiều nốt, nhưng cũng là kiểu chậm nhất và Kiểu (ii) thì có chức năng ở giữa của kiểu (i) và kiểu (iii). Trong thực tế, người chơi thường tập luyện và kết hợp cả ba kiểu lại với nhau.

Staccato được biểu thị bằng dấu chấm bên dưới hoặc phía trên mỗi nốt nhạc.

  • Chơi Marcato

Marcato chỉ một dạng kỹ thuật chơi piano nhấn nốt. Việc nhấn nốt sẽ không quá ngắn, cũng không quá dài và thường được chơi với cường độ mạnh, ký hiệu là dấu nhấn dọc hay nhấn ngang trên nốt nhạc >, /\ .

  • Khi chơi đàn piano theo phong cách nhạc nhẹ thì quãng tám thiếu cực trầm và quãng tám trầm thường chỉ dành cho bè của âm bass khi bạn cần chơi dày ở các đoạn điệp khúc B có tính chất cao trào, quãng tám lớn cũng thường được sử dụng để làm bè cho âm bass khi bạn chơi các đoạn phân khúc A khi giai điệu hơi lên cao về phía bên phải. Cũng có khi bè của âm bass lại được chơi ở quãng tám đủ nhỏ khi phần giai điệu được chơi lâu ở các quãng tám đủ hai và quãng tám đủ ba tương ứng để không cho ở giữa phần âm hình mẫu đệm ở tay trái và phần giai điệu ở bên tay phải bị trống, loãng nhiều ở quãng tám một. Cũng có khi phần bè của âm bass và phần âm hình mẫu đệm lại được tác giả bản nhạc cố ý soạn để chơi ở các quãng tám đủ một và quãng tám đủ hai và để cho phần giai điệu được chơi ở các quãng tám lớn hoặc quãng tám nhỏ (kỹ thuật chéo tay) để nhằm tạo sắc thái riêng cho bản nhạc. Phần lót câu thường nằm ở vị trí của các quãng tám đủ hai, ba, bốn và thỉnh thoảng cũng có thể ở quãng tám năm hoặc các quãng tám nhỏ hoặc quãng tám một nếu như phần giai điệu lại nằm cao ở các quãng tám hai, quãng tám ba. Các phần chạy ngón, fill-in thì có thể chạy xuyên suốt qua lại từ quãng tám trầm đi qua các quãng tám khác để di chuyển đến quãng tám năm và đi ngược lại.

    Bài viết này của tôi được viết trên cơ sở dựa vào những kiến thức âm nhạc mà tôi đã được học cũng như những kinh nghiệm tập chơi đàn piano trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích cho việc học đàn piano của bạn, xin ửng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé www.phuoc-partner.com. Cám ơn bạn rất nhiều và chúc bạn thành công chinh phục loại nhạc cụ khó tính này nhé. Xin chào bạn.
- Advertisement -
RELATED ARTICLES
- Advertisment -

Most Popular

Recent Comments