Câu hỏi 7: NSDLĐ có thể quy định thời hạn báo trước khi NLĐ chấm dứt HĐLĐ dài hơn thời hạn báo trước theo quy định của BLLĐ không? Làm thế nào để có thể kéo dài thời hạn báo trước của NLĐ khi NLĐ muốn chấm dứt HĐLĐ?

1322
  1. NSDLĐ có thể quy định thời hạn báo trước khi NLĐ chấm dứt HĐLĐ dài hơn thời hạn báo trước theo quy định của BLLĐ không?

Theo quy định chung về thời hạn báo trước khi muốn chấm dứt HĐLĐ, NLĐ phải tuân thủ thời hạn báo trước ít nhất là 03 ngày làm việc đối với HĐLĐ xác định thời hạn dưới 12 tháng, 30 ngày đối với HĐLĐ xác định thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng và 45 ngày đối với HĐLĐ không xác định thời hạn[22]. Đây là nghĩa vụ của NLĐ để đảm bảo rằng NSDLĐ có đủ thời gian hợp lý để tìm NLĐ mới thay thế. Về mặt pháp lý, đây cũng được xem là quyền của NLĐ, NLĐ có thể lựa chọn thực hiện việc thông báo này với thời hạn dài hơn (trước từ 2 đến 3 tháng hoặc có thể hơn thế nữa) miễn làm sao vẫn đảm bảo được thời hạn thông báo phải trước tối thiểu phải là 03 ngày làm việc, 30 hoặc 45 ngày tùy từng trường hợp theo quy định của pháp luật lao động. Do vậy, nếu NSDLĐ vận dụng quyền này của NLĐ để đơn phương chuyển quyền này thành nghĩa vụ của NLĐ thông qua việc yêu cầu NLĐ phải thông báo trước cho NSDLĐ một thời hạn dài hơn yêu cầu của pháp luật lao động thì sẽ không được xem là phù hợp với quy định của pháp luật lao động.

  1. Làm thế nào để kéo dài thời hạn báo trước của NLĐ khi NLĐ muốn chấm dứt HĐLĐ?

Nếu muốn NLĐ thông báo trước khi chấm dứt HĐLĐ một khoảng thời gian dài hơn so với quy định của pháp luật lao động, NSDLĐ có thể thỏa thuận bằng văn bản với NLĐ về vấn đề này nhưng phải đảm bảo sẽ không làm thiệt hại đến quyền lợi của NLĐ. Mặc dù vậy, kể cả khi NLĐ đồng ý với yêu cầu của NSDLĐ thì quy định này cũng có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của NLĐ.

Ví dụ: NSDLĐ và NLĐ có giao kết HĐLĐ xác định thời hạn từ ngày 01/01/2017 đến 31/12/2018. Đầu tháng 3/2018, con ruột của NLĐ bị bệnh nặng phải điều trị tại bệnh viện và ở nhà dài ngày để điều trị cho nên NLĐ muốn xin nghỉ việc để ở nhà chăm sóc con. Theo quy định tại Điều 35.1 (b) BLLĐ, NLĐ chỉ phải báo trước cho NSDLĐ ít nhất 30 ngày. Tuy nhiên, nếu NSDLĐ đưa ra quy định buộc NLĐ phải thông báo trước ít nhất 02 tháng hoặc nhiều hơn thì NLĐ sẽ không thể đáp ứng được yêu cầu này vì NLĐ không thể nào biết được vào thời điểm nào thì con của NLĐ sẽ trở bệnh nặng. Bên cạnh đó, khi NLĐ không tuân thủ thời hạn báo trước do NSDLĐ quy định, NSDLĐ có thể viện dẫn rằng NLĐ đã đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật và yêu cầu NLĐ phải bồi thường cho NSDLĐ một khoản tiền tương ứng với tiền lương của NLĐ trong những ngày không báo trước theo yêu cầu của BLLĐ. Nếu các bên thỏa thuận thời hạn thông báo trước khi chấm dứt HĐLĐ là 02 tháng, NLĐ sẽ phải bồi thường cho NSDLĐ 02 tháng tiền lương do vi phạm thời hạn báo trước, trong khi khoản tiền phải bồi thường này chỉ là 01 tháng tiền lương của NLĐ tương ứng với 30 ngày thông báo trước khi chấm dứt HĐLĐ theo quy định của BLLĐ[23]. Khi đó, việc áp dụng quy định trên của NSDLĐ sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền được đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo pháp luật lao động của NLĐ và điều này có thể dẫn đến rủi ro là NLĐ sẽ khiếu nại NSDLĐ ra cơ quan quản lý lao động có thẩm quyền để yêu cầu được giải quyết quyền lợi cho NLĐ theo đúng quy định của BLLĐ.

Cũng cần lưu ý thêm rằng, việc quy định trong HĐLĐ về thời hạn báo trước dài hơn thời gian theo quy định của BLLĐ sẽ không được xem là thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ theo Điều 34.3 BLLĐ vì việc thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ theo Điều 34.3 BLLĐ là việc xảy ra tại thời điểm mà các bên cùng mong muốn chấm dứt HĐLĐ (không thể có thỏa thuận trong HĐLĐ về các điều khoản và điều kiện của việc chấm dứt), có nghĩa rằng các bên cùng thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ trước thời hạn. Theo đó, tại thời điểm thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ, ngoài các thỏa thuận khác, các bên có quyền thỏa thuận với nhau về ngày làm việc cuối cùng của NLĐ và kết quả của thỏa thuận này là một bản thỏa thuận về việc chấm dứt HĐLĐ.

Ví dụ: Vào ngày 01/01/2018, NSDLĐ và NLĐ giao kết HĐLĐ có thời hạn 12 tháng được tính từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/12/2018. Vào ngày 02/4/2018, các bên cùng thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ trước thời hạn và ký thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ với nội dung như sau:

  • Ngày ký thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ: 02/4/2018; và
  • Ngày làm việc cuối cùng của NLĐ: 03 tháng kể từ ngày ký thỏa thuận. Như vậy, ngày làm việc cuối cùng của NLĐ sẽ là 30/6/2018.

Trên thực tế, vẫn chưa có các án lệ hay vụ việc cụ thể nào có liên quan nào đến vấn đề thỏa thuận của NSDLĐ và NLĐ về thời hạn báo trước khi chấm dứt HĐLĐ dài hơn quy định của BLLĐ, nên trên quan điểm thận trọng, NSDLĐ nên cân nhắc và xin ý kiến hướng dẫn chính thức từ các cơ quan quản lý lao động có thẩm quyền để áp dụng và đảm bảo rằng việc các bên thỏa thuận như vậy phải dựa trên cơ sở là bảo vệ quyền lợi cho NLĐ.

[22] Điều 35.1 BLLĐ.

[23] Điều 40.2 BLLĐ.