-Advertisment-spot_img
25 C
Ho Chi Minh City
Trang ChủÂm Nhạc25 mẹo nhỏ để chơi piano có hồn

25 mẹo nhỏ để chơi piano có hồn

spot_img

Có nhiều người tập chơi piano đã lâu nhưng vẫn chơi đơn điệu, không thể chơi piano có hồn, truyền cảm và sinh động được. Hay theo một cách khác, làm sao để bạn có thể chơi piano như một người chơi piano chuyên nghiệp được. Muốn làm được điều này thật sự là vô cùng khó và có khi sẽ không bao giờ làm được nếu như bạn không biết cách. Tuy nhiên, nếu học biết được cách thì điều này cũng không phải là quá khó, bạn chỉ cần tập trung chú ý vào một số mẹo sau đây:

  1. Bạn nên chọn tốc độ nhịp (tempo) phù hợp với tiết điệu đã chọn cho bản nhạc cũng như phù hợp với tính chất của bản nhạc. Bên cạnh đó, bạn cũng phải giữ tốc độ nhịp sao cho ổn định trong từng đoạn nhạc để nhịp không bị nhanh hoặc chậm hơn nhịp đã chọn từ đầu mà kết quả là sẽ làm cho âm thanh của nhạc bị dồn cục lại hayhoặc dàn trải ra. Tuy nhiên, khi chuyển từ đoạn phiên khúc A vào phần cao trào của đoạn điệp khúc B thì bạn có thể cân nhắc tăng tốc độ của nhịp lên một ít để tạo sự tươi vui, rộn ràng, tuy nhiên cũng sẽ tùy vào nội dung của bản nhạc nữa.
  2. Khi thấy bản nhạc có Mô-típ tương tự được lặp đi lặp lại quá nhiều lần mà có thể làm cho người nghe bị nhàm chán thì bạn có thể chơi lơi nhịp đi một ít ở phần giai điệu của tay phải (đặc biệt là ở các tiết điệu chậm chẳng hạn như Boston, Ballad, Slow Rock) mặc dù vẫn đảm bảo rằng bạn luôn chơi đúng nhịp ở phần mẫu âm hình đệm của tay trái bằng cách đó là bạn phải luôn đạp chân trái để giữ nhịp. Ngoài ra, bạn cũng có thể chơi phần đầu của bản nhạc theo kiểu lơi, giãn nhịp để rồi khi vào đến đoạn đoạn điệp khúc B hoặc khi lặp lại đoạn phiên khúc ban đầu đó thì mới vào đúng nhịp nhằm mục đích tạo sự khác biệt về nhịp trong một đoạn mà được lặp lại.
  3. Bạn cần biết cách sử dụng các nốt nằm ngoài hợp âm (hoặc còn được gọi là nốt ngoại hợp âm) chẳng hạn như nốt qua, nốt thêu, nốt thoát, nốt nhấn, nốt hoãn âm, nốt treo âm, nốt tiền âm, nốt đổi âm, nốt lưu âm thông qua các quãng thuận như quãng ba, quãng bốn, quãng năm, quãng sáu, quãng tám cũng như các thủ pháp biểu diễn để tô điểm cho nốt giai điệu chẳng hạn như âm dựa, âm vỗ, láy rền, láy chùm, trill để tô điểm xung quanh giai điệu để làm cho giai điệu không còn khô cứng nữa mà sẽ mềm mại, uyển chuyển hơn – bạn có thể xem thêm bài về cách sử dụng các âm ngoại hợp âm.
  4. Muốn tiếng đàn piano của bạn nghe du dương thì âm thanh của nó phải có lúc mạnh, lúc nhẹ. Hoặc nói một cách khác, bạn cần phải biết cách điều khiển cường độ thông qua lực ngón tay mạnh nhẹ để nhấn các ngón tay của bạn vào các phách mạnh và phách mạnh vừa theo cả tiết nhịp của bản nhạc và theo tiết tấu của tiết điệu mà bạn đã chọn thông qua máy đập nhịp (metronome) hoặc bạn cũng có thể tập đạp chân trái của bạn theo nhịp và những nốt nhạc nào nằm ở cuối ô nhịp thì bạn sẽ chơi nhẹ lại. Nếu làm được như vậy và xen kẽ giữa những chỗ mạnh và những chỗ nhẹ, và cứ làm như vậy thì bạn sẽ tạo nên một luồng sóng mạnh nhẹ lên xuống liên tục cho bản nhạc để đưa sự biểu cảm vào bản nhạc và sẽ giúp cho bản nhạc nghe truyền cảm và hấp dẫn hơn so với việc bạn luôn giữ nguyên lực ngón tay như nhau xuyên suốt bản nhạc. Về phần tiết nhịp, các phách mạnh thường nằm ở đầu các ô nhịp còn các phách mạnh vừa (nếu có) sẽ nằm ở giữa của ô nhịp. Về phần tiết tấu, mỗi tiết điệu sẽ có phần nhấn nhá theo đặc trưng riêng của tiết điệu đó. Đặc biệt, ở các phần cao trào ở đoạn điệp khúc B khi mà cường điệu cần được sử dụng thì lực ngón tay của bạn phải cho mạnh dần lên, dồn dập bằng cách chơi các tiết tấu nốt kép, fill-in chạy ngón, Tutti, ngắt nhịp một cách bất ngờ để dẫn từ đoạn phiên khúc A vào đoạn điệp khúc B. Nếu có thể tập được những điều này thì nó sẽ giúp cho giai điệu ở tay phải của bạn có thể hòa quyện với phần mẫu âm hình đệm ở tay trái và như thế sẽ làm cho âm điệu của bản nhạc như là một luồng sóng mạnh nhẹ liên tục nối tiếp nhau mà từ đó sẽ làm cho bản nhạc của bạn được nhịp nhàng, dịu dàng và truyền cảm hơn.
  5. Việc bạn chơi mạnh hay nhẹ sẽ không chỉ nằm ở phần giai điệu của tay phải mà còn phải được phụ họa thêm bởi mẫu âm hình đệm của tay trái. Tuy nhiên, do tay trái của bạn đảm nhận chức năng chơi câu bass và phần mẫu âm hình đệm hỗ trợ cho giai điệu ở bàn tay phải cho nên cường độ âm thanh tay trái của bạn phải nhỏ hơn âm thanh của bàn tay phải (một tám một mười). Đặc biệt, việc xữ lý độ vang của một âm nào đó tăng lên dần dần và nhịp dồn dập rất cần ở những đoạn chẳng hạn như đoạn điệp khúc B, tutti, chạy ngón, fill-in, tiết tấu móc kép và những chỗ trong bản nhạc mà tác giả của bản nhạc cố ý muốn bạn phải nhấn mạnh vào đó. Bên cạnh đó, cũng có trường hợp tùy vào nội dung ca từ của bản nhạc (nếu bản nhạc là bài hát) mà bạn buộc phải chơi mạnh hoặc nhẹ ở phần giai điệu và phần mẫu âm hình đệm ở một đoạn nào đó theo ý đồ của tác giả bản nhạc.
  6. Bạn nên thay đổi vị trí của các nốt giai điệu lên hoặc xuống một quãng tám đến hai quãng tám so với bản nhạc gốc kèm theo âm lượng khác nhau ở từng vị trí quãng để tạo hiệu ứng (càng lên cao thì bạn nên chơi càng to và ngược lại càng xuống thấp thì bạn nên chơi nhỏ lại).
  7. Bạn nên thay đổi một phần của tiết tấu, bố cục của giai điệu, thế bấm của mẫu âm hình đệm của tay trái để tránh nhàm chán. Ví dụ: giai điệu của bản nhạc có nhiều cụm liên ba móc đơn liên tiếp thì bạn có thể thay thế một vài cụm liên ba móc đơn đó bằng các cụm liên ba móc kép. Bạn cũng có thể sử dụng mẫu âm hình đệm xếp hẹp trong vòng một quãng tám ở đoạn phiên khúc A và mẫu âm hình đệm xếp rộng ở đoạn điệp khúc B và khi lặp lại bản nhạc một lần nữa thì bạn có thể trộn cả hai lại cách xếp lại với nhau và có sự thay đổi qua lại liên tục. Dù biết rằng bạn phải giữ cho mẫu âm hình đệm được thống nhất nhưng không phải lúc nào cũng như vậy vì nếu thế thì sẽ làm cho bản nhạc nghe có vẻ nhàm chán và đơn điệu. Trong khi chơi bản nhạc thì bạn có thể vận dụng thêm nhiều thế mẫu âm hình đệm khác nhau cho tay trái, thay đổi tiết tấu tay trái trong từng câu trên từng đoạn của bản nhạc chẳng hạn.
  8. Bạn cũng có thể thay đổi giọng của giai điệu bằng cách nâng lên hoặc hạ xuống thường là từ nửa cung đến một cung, được áp dụng khi: (i) bạn muốn lặp lại một đoạn cao trào nào đó trong bản nhạc, thường sẽ là đoạn điệp khúc B; hoặc (ii) bản nhạc được lặp đi lặp lại nhiều lần thì ở vào lần lặp lại sau cùng bạn có thể cân nhắc thay đổi giọng tăng lên một nửa cung đến một cung.
  9. Trong một số bản nhạc, bạn cũng có thể thay đổi điệu tính của bản nhạc ví dụ như bản nhạc là giọng trưởng được chuyển sang giọng thứ hoặc ngược lại để thay đổi sắc thái của bản nhạc.
  10. Bạn nên chơi rõ tiếng của giai điệu và phải giữ phím sao cho phím có độ ngân cho đủ với trường độ của nốt giai điệu. Sau khi chơi và giữ đủ trường độ của nốt giai điệu và chuẩn bị chơi sang phím khác thì bạn mới giở ngón tay lên ra khỏi phím để bấm vào phím mới nhằm mục đích không làm cho âm thanh bị lem giữa nốt đã chơi và nốt sắp chơi.
  11. Trong đa số các trường hợp thì khi nốt giai điệu càng di chuyển lên cao về phía bên bàn tay phải thì âm thanh của giai điệu phải được chơi càng lớn vì có thể đó là phần cao trào của đoạn điệp khúc B của bản nhạc cần có cường độ mạnh hoặc là vì một lý do khác đó mà càng lên cao thì âm của bass nhỏ đi và âm của treb nhiều hơn và ngược lại khi nốt giai điệu đi xuống càng thấp thì bạn sẽ chơi âm thanh càng nhỏ lại vì nếu chơi mạnh sẽ bị ồn.
  12. Đối với bản nhạc nào mà có nhiều chỗ có trường độ nhịp dài mà lại không có nốt giai điệu ở đó, thì bạn nên vận dụng kỹ thuật chạy ngón hay fill-in để lấp vào các chỗ trống đó. Có rất nhiều cách chạy ngón và fill-in khác nhau, theo các thế bấm khác nhau nhưng cần phải chơi sao cho đủ số nhịp được ngân dài. Khi chơi chạy ngón và fill-in thì tốc độ của hai tay phải phối hợp với nhau nhanh gọn và không ngừng nghỉ, kết hợp với chân dậm pedal sẽ giúp cho tiếng đàn của bạn nghe liền mạch khi chạy ngón, fill-in trên nhiều quãng khác nhau.
  13. Bạn phải phối hợp hai tay nhịp nhàng cùng một lúc để tạo sự cân bằng. Khi ở một đoạn nhạc khá dài nào đó mà có ít hoặc không có nốt giai điệu thì tay phải của bạn có thể hoặc là chơi giúp một phần của mẫu âm hình đệm của bàn tay trái hoặc cùng với bàn tay trái tạo ra một đoạn chèn, chạy ngón nào đó lấp vào chỗ trống mà không phải chơi theo tiết điệu tại chỗ trống đó, để cho bản nhạc thêm biến hóa, phong phú. Lưu ý rằng khi chạy ngón thì bạn phải chạy sao cho đúng và đủ số nhịp được ngân dài và bạn phải biết kết hợp chúng với pedal để giảm tiếng ồn.
  14. Bạn phải cho pedal được ngắt kịp thời và đúng lúc, đặc biệt là nên ngắt pedal khi chuyển từ hợp âm này sang hợp âm kia để âm thanh của hợp âm trước và hợp âm sau không bị lem, hoặc khi âm bass di chuyển theo bước lần liên tục bên tay trái, hoặc khi chồng hợp âm liên tục bên tay phải thì bạn nên tạm ngắt pedal để không bị ồn.
  15. Ở những ô nhịp có nhiều khoảng trống do không có nốt giai điệu chẳng hạn như khi hết một câu hoặc một đoạn ở đoạn phiên khúc A chẳng hạn, tay phải của bạn, ngoài việc hỗ trợ mẫu âm hình đệm của bàn tay trái, còn có thể lót câu thông qua việc sử dụng các thủ pháp biểu diễn để tô điểm ví dụ như âm dựa ngắn và âm dựa dài, âm vỗ, láy chùm, láy rền hoặc sử dụng các thủ pháp biểu diễn để tô điểm chẳng hạn như luyến để hỗ trợ cho giai điệu.
  16. Trong khí nhạc (bản nhạc chỉ có tiếng đàn chứ không có tiếng hát) thì bạn có thể sử dụng các trường độ phù hợp của dấu lặng (-) như là một cách để tách biệt từng câu, từng đoạn của bản nhạc nhằm tạo hiệu ứng khác biệt cho từng đoạn của bản nhạc hay là để giúp làm xóa nhòa đi giọng (ton) mà bạn đang chơi đối với người nghe để họ chuẩn bị đón nhận một giọng (ton) mới nào đó. Trong thanh nhạc (tức là bản nhạc có lời ca) thì nó sẽ giúp có thêm một ít thời gian nghỉ để ca sĩ và những người chơi nhạc cụ hơi cho người biểu diễn nhạc lấy hơi thở.
  17. Bạn nên thay đổi liên tục các kỹ thuật ở tay phải ví dụ như vừa rải hợp âm, vừa trill, tremolo quãng ba, quãng sáu, quãng năm, quãng tám (đây là các quãng thuận dễ nghe vì thuận tay), tutti, v.v.) để thay đổi liên tục sắc thái của giai điệu nhằm tránh sự lặp đi lặp lại gây ra sự nhàm chán cho người nghe.
  18. Bạn nên sử dụng kỹ thuật chồng hợp âm tay phải ở các quãng thuận chẳng hạn như quãng ba, quãng sáu, quãng bốn, quãng năm, quãng tám hoặc có thể chồng từ hai đến ba quãng cùng một lúc ở các phần cao trào của đoạn điệp khúc B hoặc ở một đoạn giai điệu tiêu biểu nào đó trong bản nhạc để làm cho giai điệu được bè giúp tạo độ dày, chắc chắn.
  19. Bạn cũng có thể áp dụng các kỹ thuật đàn piano chẳng hạn như glissando, staccato, legato để tạo thêm sắc thái cho phần giai điệu.
  20. Phần âm bass bên tay trái của bạn cần phải di chuyển hợp lý từ hợp âm này sang hợp âm khác sao cho âm thanh được hòa quyện với nhau. Trong một số trường hợp, bạn nên sử dụng kết hợp: (1) hợp âm đảo để các âm bass được di chuyển liền bậc theo âm giai đã chọn của bản nhạc; (2) di chuyển theo lối chromatic nửa cung; (3) di chuyển theo các nốt có trong hợp âm; (4) di chuyển theo các quãng thuận được lặp đi lặp lại (ví dụ như các quãng ba trưởng, quãng ba thứ, quãng sáu trưởng, quãng sáu thứ, quãng tám đúng; quãng bốn đúng, quãng năm đúng).
  21. Bạn nên thay đổi tiết điệu đã chọn của bản nhạc hoặc có thể trộn kiểu đệm cũ và kiểu đệm mới với nhau mặc dù tiết tấu của chúng có thể khác nhau nhưng có thể kết hợp được với nhau (ví dụ như bản nhạc sử dụng tiết điệu Bolero, Chachacha, Rhumba chẳng hạn có thể được chơi lại thành tiết điệu Pop-Ballad hoặc ngược lại) trong cùng một bản nhạc.
  22. Không phải lúc nào bạn cũng chơi ra chất tiết điệu của bản nhạc của bản nhạc từ đầu đến cuối. Thay vào đó, ở đoạn phiên khúc A của bản nhạc, bạn có thể sử dụng mẫu âm hình đệm không đầy đủ của tiết điệu đã chọn ở phần mẫu âm hình đệm của tay trái (ví dụ như điệu Slowrock), thay đổi thế bấm của hợp âm (sử dụng hợp âm đảo chẳng hạn), dùng các hợp âm màu (khi có một hợp âm nào đó phải ngân dài từ bốn nhịp trở lên) để tạo ra sự đơn giản, chỉ khi nào đến phần cao trào của đoạn điệp khúc B thì tay trái của bạn mới đệm đầy đủ mẫu âm hình đệm của tiết điệu.

  23. Bạn có thể tận dụng các nốt 2, nốt 9, nốt 7 (là các nốt có trong âm giai và có sử dụng hoặc không sử dụng chúng đều thật sự không có hại) của tay phải để tạo thêm màu sắc, tạo sức hút làm phong phú thêm cho phần mẫu âm hình đệm của tay trái.
  24. Bạn có thể tận dụng các hợp âm màu ở những ô nhịp thích hợp trong bản nhạc ví dụ như hợp âm Sus2, hợp âm Sus4, hợp âm át, hợp âm tăng, giảm, hợp âm trưởng 7, hợp âm 9, âm trưởng 11, âm trưởng 13 để tạo thêm màu sắc của phần mẫu âm hình đệm tay trái thay vì chỉ sử dụng sáu hợp âm cơ bản.
  25. Bạn có thể thay đổi hòa âm cho bản nhạc (tức là thay đổi các hợp âm của bản nhạc dựa vào các hợp âm song song, bà con, họ hàng, cháu chắt của các hợp âm đã chọn hoặc có thể thay đổi hợp âm theo một phong cách chơi nhạc mới nào đó ví dụ như Blues Jazz) để làm mới bản nhạc.

Nói tóm lại, bạn phải chịu khó luyện tập thường xuyên cho đến khi thuần thục tất cả các kỹ thuật piano được nêu ở trên để có thể phối hợp chúng nhịp nhàng với nhau tùy theo tình chất của bản nhạc, không gian nơi chơi nhạc, phong cách chơi nhạc và nhiều yếu tố khác nữa.

Bạn không nên cố gắng chơi nguyên một bản nhạc trong một buổi tập vì như vậy có khi bạn sẽ không bao giờ có thể chơi trọn vẹn được một bản nhạc vì bạn sẽ bị chán và có thể phải bỏ cuộc giữa chừng. Thay vào đó, bạn nên chia bản nhạc ra thành những phân đọan nhỏ và phân phối thời gian tập một ít mỗi ngày nhưng có tính chất đều đặn để chinh phục từng phần của bản nhạc trong một khoảng thời gian hợp lý nào đó (tuần/tháng). Chú ý, khi tập chơi bản nhạc thì bạn cần dành nhiều thời gian hơn cho việc tập các phần giáp nối giữa các đoạn, câu, chi câu với nhau vì các chỗ này thường bị vấp khi tập. Ví dụ: ngày thứ 1 bạn tập phần 1 và một ô nhịp đầu của phần 2 và ngày kế tiếp sẽ bạn sẽ tập phần còn lại của phần hai và một ô nhịp đầu của phần 3, đại loại như vậy. Lý do của việc này là vì phần giáp nối giữa các đoạn, câu, chi câu thường có sự thay đổi tiết tấu buồn, vui hoặc mẫu âm hình đệm bị thay đổi cho nên thường gây khó khăn cho bạn.

Để có thể nhớ được nhanh và lâu giai điệu của một bản nhạc thì cách tốt nhất là bạn phải cảm được ca từ, giai điệu của bản nhạc đó trước khi tập chơi nó. Đầu tiên, bạn nên tìm trên internet một bản nhạc nào đó mà bạn muốn độc tấu rồi bạn sẽ nghe đi nghe lại bản nhạc đó vài chục lần, sau đó bạn sẽ tìm cách viết lại ca từ của bản nhạc đó (nếu đó là bài nhạc có lời hát) ra giấy cho đến khi bạn có thể nhớ được toàn bộ ca từ của bản nhạc cũng như những chỗ ngưng, nghỉ của nó trước khi bạn chính thức bắt tay vào tập bản nhạc đó. Khi tập đàn thì bạn nên tập ở tốc độ chậm bằng metronome trước rồi từ từ tăng tốc độ lên cho đến tốc độ phù hợp của tiết điệu mà bạn đã chọn, khi tập xong một đoạn nào đó của bản nhạc thì bạn nên tập không nhìn bàn phím nhưng vẫn có thể chơi được các nốt cần chơi, bạn cũng có thể nhắm mắt lại để thả hồn của bạn phiêu theo giai điệu của bản nhạc, điều này sẽ giúp ích cho bạn trong việc nhớ được giai điệu của bản nhạc mà bạn cần thể hiện.

Việc chơi sai khi đang tập sẽ không quan trọng bằng việc bạn không nhận ra cái sai của bạn để sửa cho đúng. Nếu chơi 10 lần mà bạn vẫn còn sai thì bạn phải chơi 15, 20, 30 lần thì cũng đến lúc sẽ đúng nhưng nếu bạn không nhận biết được cái sai của bạn thì bạn sẽ không bao giờ chơi cho đúng được trừ khi có người nào đó nhận ra cái sai đó và chỉ cho bạn. Bạn cũng có thể thu âm lại đoạn nhạc mà bạn đã tập thuần thục để bạn nghe lại xem là bạn đã chơi đúng với yêu cầu của bản nhạc hay chưa để từ đó biết được cái sai của bạn nằm ở đâu để điều chỉnh cho đúng. Khi gặp một ngày tồi tệ nào đó, bị mất tập trung thì bạn không nên tập chơi đàn nữa vì nó không những không cải thiện được ngón đàn của bạn mà còn làm cho nó trở nên tồi tệ hơn, bạn cần phải để cho đầu óc của bạn được sảng khoái, tập trung thì mới tập chơi đàn trở lại bạn nhé.

Nếu bạn là người mới bắt đầu học chơi đàn piano theo phong cách nhạc nhẹ, bạn nên tập từng tay tách biệt trước rồi sau đó mới phối hợp chúng lại với nhau. Với việc học thuộc giai điệu của một đoạn nhạc rồi chơi lại bằng tay phải thật nhuần nhuyễn. Sau đó, bạn sẽ tập sang tay trái các câu bass và phần mẫu âm hình đệm, khi nào đã sẵn sàng chơi cả hai tay thì bạn mới ráp hai tay lại với nhau một cách chậm rải rồi từ từ tăng dần tốc độ lên cho đến khi bạn cảm thấy thật sự thoải mái và tự tin. Có thể sẽ mất một khoảng thời gian nào đó để bạn luyện tập nhưng để chơi đàn Piano được bằng hai tay thì khoảng thời gian đó thật sự đâu có đáng gì đâu? Bạn hãy tập thoải mái, đừng căng thẳng, kiên trì luyện tập, rồi bạn cũng sẽ chơi được đàn piano bằng cả hai tay cho mà xem.

Để bạn có thể chơi đàn piano chung trong một ban nhạc nào đó thì bạn cần phải tìm bạn để chơi chung. Bạn nên tìm những người bạn chơi đàn guitar hoặc bạn chơi đàn violin để bạn có thể song tấu với họ. Nếu có thể tập chung từ 2 người trở lên thì nó sẽ giúp cho bạn rất nhiều trong việc giữ nhịp và biết cách phân chia công việc giữa phần mẫu âm hình đệm và độc tấu, lead trong một bản nhạc sao cho phù hợp với tính chất của từng loại nhạc cụ và khả năng chơi nhạc của từng người trong ban nhạc.

Bài viết này của tôi được viết trên cơ sở dựa vào những kiến thức âm nhạc mà tôi đã được học cũng như những kinh nghiệm tập chơi đàn piano trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích cho việc học đàn piano của bạn, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé www.phuoc-partner.com. Cám ơn bạn rất nhiều và chúc bạn thành công chinh phục loại nhạc cụ khó tính này nhé. Xin chào bạn.

spot_img
RELATED ARTICLES
- Advertisment -spot_img
spot_img

Most Popular

Recent Comments