12 Kỹ thuật tô điểm, lót của tay phải piano

1904

Nguyễn Hữu Phước biên soạn dựa trên kinh nghiệm học piano của mình

Ngoài chức năng chính của tay phải là chơi giai điệu ca khúc, tay phải còn phụ trách phần chạy ngón, lót câu, tô điểm, lót và đảm nhận một phần chức năng đệm phụ cho tay trái. Sau đây là 12 kỹ thuật piano cho tay phải để bạn tham khảo nhé:

  1. Bắt cầu. Khi gặp các nốt giai điệu trong một ô nhịp có móc đơn, móc đen, đen chấm thì để làm đầy giai điệu lên bằng cách mượn các nốt có trong hợp âm tại ô nhịp đó làm cầu nối bằng móc kép để nối các nốt giai điệu lại với nhau.
  2. Đánh 2 lần. Khi gặp các nốt giai điệu trong một ô nhịp có móc đơn hay móc đen, để làm đầy giai điệu thì có thể đánh hai lần nốt giai điệu đó. Ví dụ: Nốt móc đơn thì đánh thành 2 nốt móc kép, nốt móc đen thì đánh thành 2 nốt móc đơn. Tuy nhiên, lưu ý là không sử dụng quá nhiều mà chỉ là thoáng qua trong 1-2 ô nhịp để cho ca khúc thêm phong phú mà thôi.
  3. Đánh nhịp dỡ. Bằng cách sử dụng nhịp dỡ tức là nốt giai điệu sẽ đánh sớm hay muộn hơn một tý (thường là 1 móc kép, 1 liên 3 hay 1 móc đơn) cũng làm cho giai điệu thêm mềm mại, mượt mà hơn.
  4. Thay đổi tiết tấu. Nếu là các nốt móc đen thì có thể đổi thành liên 3 móc đen. Nếu các nốt là móc đơn thì có thể thay đổi thành liên 3 móc đơn hay ngược lại.
  5. Đánh chồng (bè). Có thể đánh chồng quãng 3, quãng 5, quãng 8, hay kết hợp quãng 3 & 5 hay kết hợp tất cả các quãng 3, 5 & 8. Không cần thiết phải chồng toàn bộ các nốt trong ô nhịp mà có thể chỉ chồng ở các phách mạnh và mạnh vừa để hỗ trợ cho tay Bass ở bên tay trái khi rãi hợp âm làm cho không đủ hòa âm mà cần thêm sự hỗ trợ chồng âm của tay phải.
  6. Đánh lại các nốt trong hợp âm. Khi gặp một ô nhịp nào đó mà chỉ có các nốt giai điệu đen hay trắng thôi thì giai điệu đó rất loảng, ít có hòa âm nên có thể sử dụng kỹ thuật bắt cầu nhiều hơn bằng cách đánh ngược từ nốt giai điệu về phía tay trái ở trường độ móc kép theo các nốt hợp âm. Ví dụ như bài Boulervard phần điệp khúc. Để làm được điều đó thì ngón út hay ngón áp út sẽ được dành để đánh nốt giai điệu và như thế thì các ngón cái, trỏ và giữa sẽ còn dư ra để rãi tiếp các nốt khác trong hợp âm tại ô nhịp đó.
  7. Tay trái đánh chồng hợp âm trong khi tay phải đánh móc kép hay móc liên 3 móc đơn hay ngược lại. Với kỹ thuật này, đặc biệt là một bên đánh chồng âm, một bên đánh liên 3 móc đơn vì hai bên tác chiến độc lập với nhau. Nếu trong đoạn điệp khúc có hai phần thì phần đầu có thể đánh chồng âm một bên và một bên đánh liên 3 móc đơn, sau đó đến phần 2 thì đánh một bên là chồng âm còn một bên thì móc kép để rộn ràng hơn phần 1.
  8. Tremolo. Khi hai âm hay hai hợp âm được nhắc lại nhiều lần, đều với tốc độ nhanh thì người ta dùng ký hiệu tremolo. Khi dùng tremolo thì trường độ chung của cả âm hình được xác định bằng trường độ của nốt nhạc. Có thể dùng kỹ thuật tremolo quãng 3, quãng 5 và quãng 8 để làm cho giai điệu du dương thêm. Tuy nhiên, lưu ý là chức năng chính của tremolo là tô điểm cho giai điệu trong một đoạn nhạc nào đó mà thôi nên trong một ô nhạc nào đó mà có khoảng trống không có nốt giai điệu thì Tremolo dừng lại và có thể sử dụng các kỹ thuật nối dẫn khác sẽ hay hơn nếu muốn thay vì phải sử dụng tremolo tại chỗ trong một thời gian dài. Tuy nhiên, nếu khoảng trống đó ngắn chỉ 1 phách thì có thể sử dụng Tremolo lướt qua khoảng trống đó để đi đến ô nhạc có giai điệu kế tiếp luôn để tạo sự liên kết của kỹ thuật tremolo.
  9. Chuyển phần đệm tạm thời qua tay phải và chuyển giai điệu từ tay phải sang tay trái để tạo sự khác biệt trong một vài ô nhịp nào đó (chéo tay) để tạo sắc thái mới.
  10. Chồng hợp âm. Chồng hợp âm tại chổ hay dịch chuyển liên tục 1-2 quãng với nhịp điệu như nhau hay có thay đổi để tạo sắc thái khác.
  11. Chạy ngón (finn-in): có thể chạy ngón hợp âm từ trái qua phải hay từ phải qua trái từ 2-4 quãng theo âm mình móc kép, móc liên 3 ở những khoảng trống giữa các câu nhạc.
  12. Dấu nhấn. Dấu nhấn được ghi bằng kí hiệu (>), dùng nhấn mạnh vào âm thanh của giai điệu hoặc hợp âm.