-Advertisment-spot_img
28 C
Ho Chi Minh City
Trang ChủÂm NhạcKỹ thuật đệm piano theo phong cách nhạc nhẹ12 thủ pháp biểu diễn tay phải piano cần nên biết

12 thủ pháp biểu diễn tay phải piano cần nên biết

spot_img
  1. Ngoài chức năng chính là chơi giai điệu của bản nhạc, tay phải của bạn còn phụ trách phần chạy ngón, lót câu, tô điểm và đảm nhận một phần của chức năng đệm phụ với tay trái khi cần. Sau đây là một số các kỹ thuật đàn piano dành cho tay phải để bạn tham khảo:
    • Chơi nốt giai điệu cùng với các nốt có trong hợp âm

    Khi gặp một ô nhịp nào đó mà có nhiều nốt giai điệu là nốt đen hoặc nốt trắng có trường độ dài thì giai điệu ở những vị trí đó rất loảng, ít có hòa âm nên bạn có thể sử dụng kỹ thuật bắt cầu bằng cách chơi xen kẽ nốt giai điệu và các nốt có trong hợp âm nằm ở phía bên tay trái với trường độ là các móc đơn, liên ba hay móc kép.

    • Chơi nốt giai điệu hai lần

    Khi gặp các nốt giai điệu của bản nhạc trong một ô nhịp nào đó có móc đơn hoặc móc đen, để làm đầy giai điệu bạn có thể chơi hai lần nốt giai điệu đó. Ví dụ, nốt móc đơn thì sẽ chơi thành hai nốt móc kép, nốt móc đen thì chơi thành hai nốt móc đơn. Tuy nhiên, lưu ý là chỉ sử dụng kỹ thuật thoáng qua trong một đến hai ô nhịp nào đó để cho bản nhạc thêm phong phú.

    • Chơi nhịp dỡ

    Bằng cách sử dụng nhịp dỡ hay còn gọi là lơi nhịp tức là nốt giai điệu sẽ được bạn chơi sớm hơn hoặc muộn hơn một ít (thường thì độ trễ sẽ có trường độ khoảng bằng một móc kép, một liên ba hoặc một móc đơn) cũng giúp giai điệu thêm mềm mại và mượt mà hơn.

    • Thay đổi tiết tấu

     Nếu các nốt giai điệu là các nốt móc đen thì bạn cũng có thể đổi chúng thành các nốt liên ba móc đen. Thêm vào đó, nếu các nốt giai điệu là móc đơn thì bạn cũng có thể thay đổi chúng thành nốt liên ba móc đơn hoặc ngược lại.

    • Chơi chồng (bè)

    Tương tự như hát bè, kỹ thuật chơi bè piano cũng bao gồm hai loại đó là chơi bè hòa âm (tức là chồng các nốt lên nhau) và chơi bè phức điệu (rải hợp âm).

    • Bè hòa âm

    Bè hòa âm là việc bạn chơi giai điệu sao cho nghe tròn trịa, đầy đặn tương tự như có nhiều người đang cùng hát hay nhiều nhạc cụ chơi cùng một lúc, trong đó mỗi người sẽ phụ trách một bè và thường được sử dụng tại các vị trí của phách mạnh hoặc phách mạnh vừa trong đoạn phiên khúc A và trong các đoạn phần cao trào của đoạn điệp khúc B cần giai điệu mạnh mẻ, đầy đặn. Chơi bè hòa âm có tác dụng tạo cấu trúc hòa âm cho bài đệm piano. Nhìn từ các hợp âm 3 nốt cơ bản, bạn sẽ có thể cảm thấy nó đơn giản nhưng khi bạn phát triển chúng thành các hợp âm có nhiều nốt hơn chẳng hạn như các hợp âm 7, 9, 11, 13 thì dù nó sẽ khó tập hơn nhưng bản nhạc của bạn sẽ trở nên đa dạng và phong phú hơn với rất nhiều cách chơi đàn ở cả hai tay.

    Bạn có thể chơi bè quãng ba, quãng bốn, quãng năm, quãng sáu hoặc quãng tám tùy thích vì đây là các quãng thuận nghe thuận tai, trong đó bè quãng ba và bè quãng sáu thường được sử dụng nhiều nhất vì quãng ba gần với nốt giai điệu nên sẽ thuận lợi cho thế tay của bạn còn bè quãng 6 là hình thức đảo quãng của bè quãng ba và cả hai sẽ giúp phân biệt được điệu thức trưởng và điệu thức thứ, kế đến là bè quãng tám vì nó khá dễ tập và chỉ có tác dụng làm cho giai điệu được đầy đặn, mạnh mẻ hơn dù không có hòa âm vì nốt giai điệu và nốt bè giống nhau, chỉ khác nhau ở chỗ là chúng cách nhau một quãng tám.

    Một số lưu ý khi bạn chơi bè hòa âm:

    • Nốt bè nên nằm ở phía bên tay trái của nốt giai điệu thì mới làm cho giai điệu nổi bật lên được. Cũng có thể tay phải của bạn cùng lúc sử dụng kỹ thuật chồng âm nhiều bè hơn (ba bè hoặc bốn bè) nhưng thông thường sẽ là hai bè. Không nhất thiết phải giữ một loại bè mọi lúc mà bạn có thể sử dụng nhiều loại bè trong cùng một đoạn nhạc có sử dụng bè, tùy thuộc vào thế tay của bạn khi đó thuận lợi như thế nào, tuy nhiên nốt giai điệu có nhiều bè hơn thường sẽ nằm ở các phách mạnh và phách mạnh vừa;
    • Bạn không nên chồng bè toàn bộ các nốt có trong một ô nhịp, một câu, một đoạn nào đó mà bạn chọn chơi bè mà chỉ nên chồng bè ở các nốt ở các phách mạnh và phách mạnh vừa để hỗ trợ cho phần hòa âm bên tay trái khi tay trái của bạn phải rải hợp âm theo một mẫu âm hình đệm nào đó mà không đủ các nốt có trong hợp âm làm cho không đủ hòa âm tại vị trí đó và vì thế cần có thêm sự hỗ trợ chồng quãng của tay phải;
    • Bạn nên tránh bè quãng hai và quãng bảy vì đây là những quãng nghịch, khó nghe và không có hòa âm. Bạn cũng cần nhớ rằng bè quãng sáu có nguồn gốc từ bè quãng ba mà ra (đó là khi khi bè quãng ba mà có thang âm cao quá thì bạn buộc phải hạ xuống một quãng tám để trở thành bè quãng sáu), trong khi bè quãng bốn lại bắt nguồn từ bè quãng năm, khi nốt của bè quãng năm có thang âm quá cao thì bạn buộc phải hạ nó xuống một quãng tám ra bè quãng bốn). Khi chơi bè, bạn nên chú ý rằng ở các phách mạnh và các phách mạnh vừa thì nốt bè phải nằm ở các nốt có trong hợp âm tại ô nhịp đó, còn ở các phách yếu khi giai điệu chỉ lướt qua thì bạn có thể bè ở các nốt khác như bè quãng ba, quãng bốn, quãng năm, quãng sáu, quãng tám miễn rằng các nốt bè có trong âm giai của bản nhạc; và
    • Do kỹ thuật bè phải tuân theo các hợp âm tại từng ô nhịp nên sẽ có một số trường hợp bạn không thể giữ bè của bạn thấp hơn một quãng ba hoặc một quãng năm luôn luôn được.

    Ví dụ: giai điệu chính là: | A E | F E | D trong vòng hợp âm l: Am, Dm, G. Kỹ thuật hát bè quãng ba sẽ như sau: | E C | D C | B |. Theo đó, A được bè bằng E hay C (vì E và C là những nốt có trong hợp âm Am thay vì F dù rằng F là quãng 3 bởi vì F không có trong ba nốt có trong hợp âm Am và vị trí bè lại nằm ở phách mạnh của ô nhịp cho nên không thể chọn F. Còn giữa E và C thì bạn nên chọn E vì E ở gần với nốt giai điệu hơn C) và E được bè bằng C (C có trong các nốt của hợp âm Am); F được bè bằng D (F nằm trong các nốt của hợp âm Dm) và E sẽ được bè bằng C (dù C không nằm trong ba nốt có trong hợp âm Dm nhưng nó lại nằm trong các nốt của âm giai Am (bao gồm A, B, C, D, E, F, G) và lại nằm ở phách yếu của tiết nhịp nên vẫn có thể chấp nhận được). Sau cùng, D sẽ được bè bằng B do B nằm trong các nốt của hợp âm G.

    • Bè phức điệu (rải hợp âm)

    Tác dụng của bè phức điệu hay rải hợp âm là tạo ra hòa âm theo lối giai điệu, thể hiện tính dàn trải cho cấu trúc của bản nhạc và thường được sử dụng cho các thể loại có tốc độ trung bình hoặc chậm như Ballad, Pop, Slow Rock. Chơi bè phức điệu thì bạn không chơi nốt bè cùng một lúc với nốt giai điệu mà bạn sẽ chơi đuổi theo sau các nốt giai điệu ngay tại khu vực mà nốt giai điệu vừa chơi nhưng ở các quãng khác so với quãng của các nốt giai điệu với chức năng như là nối các câu giai điệu lại với nhau hay chơi theo cách mà giai điệu vừa chơi nhưng cách một đến hai quãng tám với chức năng của nó như là một câu lót.

    Khi chơi bè phức điệu thì bạn cần lưu ý rằng nốt bè không cần phải luôn nằm ở bên tay trái của nốt giai điệu vì vào lúc đó sẽ không có nốt giai điệu nào được chơi cho nên nốt bè có thể nằm ở bất kỳ vị trí nào cũng được.

    Bạn cũng có thể sử dụng kỹ thuật chơi bè riêng một mình để trở thành đoạn dạo đầu, giang tấu, hay kết nhằm tạo ra một giai điệu mới giống với giai điệu của bản nhạc nhưng lại được bạn chơi ở các quãng khác.

    • Tay trái chồng hợp âm trong khi tay phải rải móc kép hoặc liên ba móc đơn hoặc ngược lại

    Với kỹ thuật này, đặc biệt là một bên tay phải hay tay trái của bạn sẽ chơi chồng âm, còn tay còn lại sẽ chơi liên ba móc đơn vì hai tay sẽ tác chiến độc lập với nhau. Nếu trong đoạn điệp khúc B có hai phần thì phần đầu bạn sẽ chơi chồng âm một bên tay và bên tay còn lại sẽ chơi liên ba móc đơn, sau đó đến phần hai thì bạn sẽ chơi một bên là chồng âm còn bên tay còn lại sẽ chơi móc kép để cho tiết tấu có phần được rộn ràng hơn phần 1.   

    • Kỹ thuật Tremolo (láy rền)

    Tremolo được xem là sự rung động giữa hai nốt nhạc cách xa nhau và được ghi chú bằng biểu tượng dấu gạch chéo. Kỹ thuật tremolo tạo nên sự phong phú cho tiết tấu, giúp giai điệu được nổi bật và dễ chịu hơn khi đến tai người nghe nên bạn có thể sử dụng nó để làm cho âm thanh của giai điệu trở nên hấp dẫn, thêm sức sống và hứng khởi hơn.

    Tremolo có thể được chơi bằng cả tay trái và tay phải, nhưng thường được sử dụng ở tay phải nhiều hơn. Khi sử dụng kỹ thuật tremolo thì trường độ chung của cả mẫu âm hình đệm sẽ được xác định bằng trường độ của nốt. Bạn có thể dùng kỹ thuật tremolo ở các quãng thuận chẳng hạn như quãng ba, quãng sáu, quãng bốn, quãng năm và quãng tám để làm cho giai điệu thêm du dương. Tuy nhiên, bạn cần lưu ý rằng chức năng chính của tremolo là tô điểm cho giai điệu trong một đoạn nhạc nào đó nên ô nhạc nào mà có khoảng trống không có nốt giai điệu thì tremolo có thể dừng lại và có thể sử dụng các kỹ thuật nối dẫn khác sẽ hay hơn thay vì phải sử dụng kỹ thuật tremolo tại chỗ trong một thời gian dài. Tuy nhiên, nếu khoảng trống đó là ngắn với trường độ chỉ bằng một phách thì bạn có thể sử dụng kỹ thuật tremolo để lướt qua khoảng trống đó và di chuyển luôn đến ô nhạc có giai điệu kế tiếp để tạo sự liên kết của kỹ thuật tremolo.

    • Kỹ thuật Trill (láy đều)

    Là kỹ thuật tạo màu sắc phong phú cho tiết tấu của âm nhạc và thường được sử dụng để diễn tả tính chất vui tươi trong bản nhạc nhưng đôi khi cũng cùng với lối chơi tự do về nhịp độ thì nó cũng tạo nên cảm giác sâu lắng.

    • Chuyển mẫu âm hình đệm tạm thời qua tay phải và chuyển giai điệu sang tay trái

    Bạn cũng có thể tạm chuyển phần mẫu âm hình đệm của bản nhạc ở bên tay trái sang tay phải hay chuyển giai điệu từ bên tay phải sang bên tay trái trong một vài ô nhịp nào đó nhằm tạo sự khác biệt (chéo tay) để tạo sắc thái mới cho bản nhạc.

    • Chạy ngón (fill-in)

    Kỹ thuật chạy ngón hay còn gọi là fill-in là một trong những kỹ thuật cơ bản và kỹ thuật nâng cao, thường được dùng cho các motif âm nhạc nào đó mà mang hình tượng nhiều chi tiết, tính đặc sắc cho giai điệu. Khi chơi đàn piano theo phong cách nhạc nhẹ, kỹ thuật chạy ngón hay fill-in thường được sử dụng trong các đoạn ứng tấu, giang tấu, những đoạn độc tấu và ở tất cả các thể loại.

    Bạn có thể chạy ngón hay fill-in theo các nốt có trong hợp âm từ trái qua phải hoặc từ phải qua trái từ hai đến bốn quãng tám theo âm hình móc đơn, móc liên ba, móc kép ở những khoảng trống giữa các câu nhạc.

    • Di chuyển thế bấm

    Đây là kỹ thuật có tính chất bao quát của tất cả các loại kỹ thuật piano được trình bày ở trên. Vì mang tính chất bao quát như vậy nên việc luyện tập kỹ thuật này cũng hết sức đa dạng. Nó bao gồm việc áp dụng các kỹ thuật hợp âm chùm, hợp âm rải, chạy ngón, với đặc trưng là di chuyển tư thế tay ở các khoảng cách từ hẹp đến rộng và rất rộng và ngược lại.

    • Dấu nhấn

     Bạn cũng có thể dùng dấu nhấn (>) để nhấn mạnh vào nốt của giai điệu hoặc hợp âm nào mà bạn muốn để tạo cường độ khác đi cho giai điệu.

    Bài viết này của tôi được viết trên cơ sở dựa vào những kiến thức âm nhạc mà tôi đã được học cũng như những kinh nghiệm tập chơi đàn piano trong nhiều năm qua. Nếu bạn thấy những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích cho việc học đàn piano của bạn, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé www.phuoc-partner.com. Cám ơn bạn rất nhiều và chúc bạn thành công chinh phục loại nhạc cụ khó tính này nhé. Xin chào bạn.

spot_img
RELATED ARTICLES
- Advertisment -spot_img
spot_img

Most Popular

Recent Comments