Sáp nhập, hợp nhất có thể giúp công ty luật phát triển nhanh hơn không?

418

Sáp nhập, hợp nhất có thể giúp công ty luật phát triển nhanh:

Như bạn đã biết, Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) từ tháng 01/2007, thành viên của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) từ cuối năm 2015, tham gia Hiêp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) vào ngày 01/8/2020 và là thành viên của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (the Trans-Pacific Partnership (TPP)) từ ngày 14/01/2019.

Từ những cột mốc đó, việc hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế Việt Nam có tầm cỡ khu vực để cạnh tranh một cách bình đẳng với các tập đoàn kinh tế nước ngoài ngay trên sân nhà là điều thật sự cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết và dịch vụ pháp lý cũng không nằm ngoài sân chơi này.

Từ năm 1987 cho đến nay, sau gần 40 năm phát triển nghề luật sư với gần 20.000 luật sư được cấp phép hành nghề trong cả nước và gần 5.000 công ty luật Việt Nam đã được thành lập, đã đến lúc chúng ta phải nghĩ đến khả năng thành lập các công ty luật của Việt Nam quy tụ được vài trăm luật sư có chuyên môn giỏi, giàu kinh nghiệm và đa dạng lĩnh vực pháp luật, cung cấp đầy đủ các dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp cho các khách hàng trong và ngoài nước.

Thật vậy, nếu nhìn ra thế giới, chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy rằng tại các nước đã phát triển, họ đã có những công ty luật quốc tế có tầm cỡ và quy mô rất lớn.

Những công ty luật này hoạt động như một tập đoàn dịch vụ đa quốc gia thực thụ, họ thuê mướn hàng ngàn luật sư và cung cấp dịch vụ pháp lý ở mọi lĩnh vực pháp luật bên cạnh một đội ngũ nhân viên hỗ trợ hùng hậu không kém.

Trụ sở các công ty luật này đều thuộc quyền sở hữu của họ hoặc được họ thuê lại, tọa lạc ở những cao ốc văn phòng sang trọng và hiện đại trong các khu kinh doanh, thương mại sầm uất ở các thành phố lớn.

Phạm vi hoạt động của họ không còn bó hẹp trong phạm vi quốc gia nơi họ đặt trụ sở chính mà còn trải rộng khắp các quốc gia khác thông qua hệ thống hàng trăm chi nhánh, công ty con của họ trên toàn thế giới.

Có thể nói rằng, nơi nào có công việc kinh doanh thì nơi đó luôn có sự hiện diện của các công ty luật đa quốc gia để cung cấp dịch vụ pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh ở đó. Bạn có thể tham khảo thêm thông tin về một số công ty luật đa quốc gia nổi tiếng trên thế giới đã mở chi nhánh hay công ty con tại Việt Nam tại các địa chỉ sau:

https://www.freshfields.com/, https://www.duanemorris.com/, https://www.bakermckenzie.com/en/, https://www.allens.com.au/.

Trước khi bàn về việc làm thế nào để phát triển các công ty luật Việt Nam đạt đến tầm cỡ khu vực trong thời điểm hiện nay khi Việt Nam đã là thành viên của WTO được hơn 15 năm và đang hội nhập nhanh chóng vào nền kinh tế thế giới,

chúng ta hảy thử nhìn lại chặng đường hình thành và phát triển nghề luật sư Việt Nam trong những năm qua và tìm hiểu lý do tại sao Việt Nam vẫn chưa thể xây dựng được những công ty luật Việt Nam tầm cỡ khu vực theo yêu cầu của phát triển thị trường và đời sống kinh tế – xã hội của đất nước.

cong-ty-luat-phat-trien-nhanh

Chặng đường hình thành và phát triển nghề luật sư Việt Nam

Pháp lệnh Tổ chức luật sư

Từ khi thống nhất đất nước cho đến vào khoảng cuối năm 1987, trên thực tế nghề luật sư chưa được Nhà nước thừa nhận, trong thời gian này pháp luật chỉ công nhận bào chữa của các bào chữa viên nhân dân do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hay các tổ chức thành viên của Mặt trận cử ra mà quy định này được bắt nguồn từ Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quy định về chế định bào chữa viên nhân dân và được Nghị định số 01/NĐ-VY ngày 12/01/1950 hướng dẫn thi hành.

Với việc ban hành Pháp lệnh Tổ chức Luật sư vào 18/12/1987 (“Pháp lệnh Tổ chức Luật sư”), “nghề luật sư” đã chính thức được Nhà nước công nhận nhưng Pháp lệnh Tổ chức Luật sư lại không cho phép luật sư hành nghề độc lập mà phải thông qua tổ chức nghề nghiệp là các đoàn luật sư được thành lập tại các Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương.

Vì thế, mãi cho đến tháng 9/2001 thì cả nước chỉ mới có khoảng chừng 2.000 luật sư trên tổng dân số gần 80 triệu người hay ước tính khoảng 1 luật sư/40.000 người, trong số đó chỉ có vài trăm luật sư là có hành nghề luật sư thực thụ, số còn lại thường là các cán bộ nghỉ hưu, công chức kiêm nhiệm.

Trong thời gian này, việc hành nghề luật sư thường chỉ theo tính chất cá nhân, độc lập và các luật sư chỉ tham gia tranh tụng tại các tòa án trong nước.

Pháp lệnh Luật sư

Pháp lệnh Luật sư (“Pháp lệnh Luật sư”) được ban hành vào ngày 25/7/2001 và có hiệu lực từ ngày 01/10/2001 đã thổi một luồng gió mới vào nghề luật sư bằng hai thay đổi lớn đó là: (1) hình thành công ty luật chuyên nghiệp, đó là công ty luật hợp danh, văn phòng luật sư; và (2) không chấp nhận kiêm nhiệm trong hoạt động hành nghề luật sư.

Bên cạnh đó, một số thay đổi pháp lý khác cũng đã có những tác động tích cực đến con đường chuyên nghiệp hóa nghề luật sư chẳng hạn như không chấp nhận trình độ tương đương đại học luật, cũng như mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ cho luật sư theo hướng luật sư được quyền tham gia tố tụng trọng tài, đại diện theo ủy quyền, v.v…).

Tuy nhiên, do Pháp lệnh Luật sư chưa quy định rõ ràng khái niệm “dịch vụ pháp lý” cho nên vô hình chung lại sinh ra một thực tế đó là có “hai luật chơi” trong cùng một thị trường dịch vụ pháp lý đó là Luật Doanh nghiệp và Pháp lệnh Luật sư, tức là các doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp cũng có thể đăng ký ngành dịch vụ pháp lý và kinh doanh các dịch vụ pháp lý.

Hơn nữa, việc phân biệt quyền cung cấp dịch vụ giữa luật sư trong công ty luật hợp danh (chỉ được thực hiện dịch vụ tư vấn luật) với luật sư trong văn phòng luật sư (được cung cấp cả dịch vụ tư vấn và tham gia tranh tụng)[1] đã khiến cho hệ thống các công ty luật của Việt Nam phát triển không được bình thường so với quy luật chung của các nước trên thế giới.

Sau 05 năm thực thi Pháp lệnh Luật sư cho đến khi Luật Luật sư có hiệu lực từ ngày 01/01/2007, số lượng luật sư chỉ mới tăng thêm từ 2.000 lên hơn 4.000 luật sư với hơn 800 công ty luật hoạt động (bao gồm cả các chi nhánh và văn phòng luật sư), ban đầu hình thành một mạng lưới mới trong hệ thống thực thi pháp luật ở Việt Nam nhưng chưa có sự tăng trưởng đáng kể về chất, thậm chí chỉ hoạt động mang tính đơn lẻ và manh mún.

Mỗi công ty luật chỉ đăng ký có vài luật sư, trong đó, trên thực tế các luật sư thường hành nghề độc lập và chỉ chia sẻ với nhau chi phí hoạt động chung của công ty luật. Các dịch vụ luật sư trong giai đoạn này chủ yếu vẫn là tham gia tranh tụng tại tòa án các cấp và “chạy dịch vụ”.

Hơn thế nữa, trong tổng số 4.000 luật sư đó, chỉ có khoảng 01% là có hiểu biết về luật pháp quốc tế để có thể hỗ trợ các doanh nghiệp trong các giao dịch thương mại quốc tế và thực sự có chưa đầy 20 người trong số đó là những luật sư tranh tụng có thể đáp ứng được các tiêu chuẩn chung của pháp luật quốc tế.

Với bối cảnh như vậy, có thể nói rằng, Việt Nam vẫn còn thiếu nhiều điều kiện cần thiết để có thể thành lập và vận hành các công ty luật Việt Nam mạnh và chuyên nghiệp trong giai đoạn này.

Luật Luật sư 2007

Luật Luật sư được Quốc hội ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 (“Luật Luật sư”) đã đánh dấu một cột mốc quan trọng mới trên con đường chuyên nghiệp hóa nghề luật sư tại Việt Nam.

Theo đó: (1) Luật Luật sư đã thống nhất điều chỉnh thị trường dịch vụ pháp lý tại Việt Nam, không còn tồn tại hai luật chơi như trước đây. Ai muốn cung cấp dịch vụ pháp lý thì phải là luật sư và các hoạt động hành nghề luật sư sẽ được Luật Luật sư và quy tắc đạo đức nghề nghiệp điều chỉnh;

(2) bản chất của công ty luật đã được thừa nhận là doanh nghiệp, luật sư lần đầu tiên được xem là một nghề kinh doanh dịch vụ tương tự như quan niệm về nghề luật sư trên thế giới; và

(3) luật sư không phải chịu phiền toái về hộ khẩu khi gia nhập các đoàn luật sư. Đáng chú ý là sự mở rộng hình thức hành nghề luật sư, theo đó bổ sung loại hình công ty luật trách nhiệm hữu hạn bên cạnh hai loại hình trước đó là công ty luật hợp danh và văn phòng luật sư đã tạo cơ hội cho luật sư được khẳng định mình trong nhiều lĩnh vực dịch vụ pháp lý mà trước đây chưa hề tồn tại ở Việt Nam.

Luật Luật sư 2013 (sửa đổi, bổ sung)

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật luật sư có hiệu lực từ ngày 01/7/2013 đã được ban hành theo hướng nâng cao hơn nữa chất lượng của đội ngũ luật sư và phát triển hợp lý số lượng các công ty luật.

Về việc hợp nhất, sáp nhập và chuyển đổi hình thức công ty luật, Luật sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư đã cho phép chuyển đổi loại hình giữa các loại hình công ty luật như từ văn phòng luật sư có thể chuyển đổi thành công ty luật,

công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên có thể được chuyển đổi thành công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và ngược lại, công ty luật trách nhiệm hữu hạn có thể được chuyển đổi thành công ty luật hợp danh và ngược lại.

Bên cạnh đó, Luật sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư cũng quy định nâng cao chất lượng luật sư theo hướng tất cả các luật sư đều phải tham gia bồi dưỡng bắt buộc về năng lực chuyên môn và tăng thời gian đào tạo nghề luật sư từ 06 lên 12 tháng, đồng thời rút ngắn thời gian tập sự hành nghề từ 18 tháng xuống còn 12 tháng.

Chiến lược phát triển đội ngũ luật sư Việt Nam trong những năm tới

Theo Quyết định số 1072/QĐ-TTg ngày 5/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển nghề Luật sư đến năm 2020”;

Quyết định số 2320/QĐ-BTP ngày 13/8/2012 của Bộ Tư pháp về việc ban hành Kế hoạch tổng thể triển khai Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020 cũng như thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Bộ Tư pháp đã cùng các Bộ, Ngành và Hiệp hội của doanh nghiệp xây dựng Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020 tầm nhìn 2030.

Theo đó, mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, số lượng luật sư Việt Nam sẽ có khoảng 18 đến 20 nghìn người, đảm bảo tỷ lệ luật sư trên dân số ở mức 1 luật sư/10 đến 12 nghìn dân, đồng thời nâng số luật sư được đào tạo bài bản, trang bị đầy đủ các kỹ năng tranh tụng, đảm bảo đến năm 2020, xây dựng được ít nhất 150 luật sư, 30 công ty luật đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Để góp phần triển khai thực hiện các chiến lược trên, Liên Đoàn Luật sư Việt Nam đã thành lập Câu lạc bộ Luật sư thương mại Việt Nam vào cuối năm 2015 quy tụ hơn 100 luật sư Việt Nam loại giỏi của các công ty luật lớn trong cả nước và các luật sư nội bộ trong các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, các tập đoàn, công ty lớn tại Việt Nam.

Câu lạc bộ luật sư thương mại Việt Nam được thành lập nhằm mục đích hỗ trợ huấn luyện các luật sư trẻ của Việt Nam, tạo điều kiện cho họ cọ xát với các kiến thức pháp luật quốc tế cũng như tham gia vào các công việc pháp lý mang tính quốc tế, xuyên biên giới.

Sự thống lĩnh của các công ty luật đa quốc gia

Mặc dù hiện nay Việt Nam có gần 20.000 luật sư đăng ký hành nghề trên toàn quốc nhưng thị trường pháp lý phục vụ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có quy mô lớn tại Việt Nam, chẳng hạn như các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, văn phòng đại diện và chi nhánh của các công ty nước ngoài tại Việt Nam, v.v…

phần lớn vẫn bị thống lĩnh bởi các công ty luật nước ngoài có chi nhánh hay công ty con tại Việt Nam.

Điều đáng buồn là quy mô và số lượng luật sư hành nghề của chi nhánh các công ty luật này tại Việt Nam không thực sự lớn, chỉ khoảng từ 25 đến 60 nhân viên và phần lớn là các luật sư Việt Nam được thuê vào làm việc cho họ. Có thể đưa một vài ví dụ điển hình

như chi nhánh của các công ty luật Allens Arthur Robinson, Baker & McKenzie, Duane Morris LLP,  Freshfields Bruckhaus Deringer, Gide Loyrette Nouel Co., Tilleke & Gibbins, PricewaterhouseCoopers Legal, KPMG Legal, Russin & Vecchi.   

Các công ty luật Việt Nam đang định hình và phát triển

Dẫu vậy, trong thời gian gần đây, các công ty luật Việt Nam cũng đang trên đà phát triển nhanh chóng.

Nhiều công ty luật Việt Nam đã được thừa nhận là có tiềm năng để cạnh tranh bình đẳng với các công ty luật quốc tế tại Việt Nam ví dụ như Vilaf, YKVN, Phuoc & Partners, Indochine Counsel, Pham & Associates, v.v…

Thực tế cho thấy, mỗi công ty luật Việt Nam đều có những thế mạnh riêng trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý của họ.

Họ thường thuê mướn từ 30 đến 60 luật sư và nhân viên với văn phòng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, thậm chí, một vài công ty luật Việt Nam đã mạnh dạn khai thác thị trường pháp lý ở các tỉnh miền Trung thông qua việc mở chi nhánh tại Đà Nẵng và cũng có một vài công ty luật Việt Nam còn đi xa hơn bằng việc mạnh dạn thành lập chi nhánh ở nước ngoài.

Những luật sư sáng lập và luật sư điều hành của các công ty luật Việt Nam này đa số là người Việt Nam, có kinh nghiệm làm việc cho các công ty luật quốc tế tại Việt Nam hoặc công ty dịch vụ tư vấn đầu tư Việt Nam trước đây, hoặc trở về hành nghề luật tại Việt Nam sau thời gian du học ở các nước phương Tây hoặc Đông Âu và Liên Xô cũ. 

Khuynh hướng phát triển phổ biến của các công ty luật Việt Nam trong thời gian vừa qua phần nhiều là chia, tách để khẳng định bản thân hơn là sáp nhập, hợp nhất để cùng nhau phát triển.

Có thể hiểu rằng, đây cũng là khuynh hướng chung trong giai đoạn thị trường pháp lý ở Việt Nam đang phát triển và còn khá non trẻ.

Nhiều công ty luật Việt Nam mới được thành lập từ việc chia, tách các công ty luật Việt Nam trong vài năm gần đây đã nhanh chóng khẳng định mình với quy mô khá lớn từ cơ sở vật chất mà bao gồm văn phòng, trang thiết bị văn phòng, công nghệ thông tin ví dụ như trang web, phần mềm quản trị chuyên dùng đến con người,

ví dụ như thuê các luật sư nước ngoài và luật sư Việt Nam đi du học ở nước ngoài chẳng hạn như LuatViet, Phuoc & Partners, LCT Lawyers, LNT & Partners, v.v…

Cũng có một vài công ty luật Việt Nam gần đây cũng đã cố gắng thử nghiệm hợp tác với các công ty luật nước ngoài ở tầm cỡ khu vực như LCT Lawyers và Rajah & Tann (Singapore), Luật Việt và Denton hứa hẹn mở ra một khuynh hướng phát triển công ty luật mới tại Việt Nam.

Thị trường pháp lý đang phát triển nhanh

Việc Việt Nam trở thành thành viên của WTO, AEC, TPP hứa hẹn mở ra nhiều cơ hội và thách thức mới cho công ty luật Việt Nam.

Cùng với việc hội nhập kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam cũng dần dần thay đổi quan niệm xem việc sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý như là một điều thiết yếu trong hoạt động kinh doanh của họ hơn chỉ là mốt như cách suy nghĩ trước đây.

Bên cạnh đó, ngày càng nhiều các công ty nước ngoài tiếp tục tìm kiếm cơ hội đầu tư tại Việt Nam cũng như ở trong nước, các công ty Việt Nam đã hay chuẩn bị lên sàn chứng khoán và cũng có nhiều doanh nghiệp Việt Nam vừa và nhỏ khác cũng đang tìm cách tái cơ cấu để thích nghi với tình hình mới để phát triển nhanh chóng hơn nữa.

Tất cả những đối tượng khách hàng này đều cần tham vấn ý kiến pháp lý của luật sư để bảo đảm hoạt động kinh doanh còn họ tuân thủ pháp luật và phát triển bền vững hoặc để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình hoạt động, v.v…

Nhìn lại tình hình phát triển của thị trường pháp lý của Việt Nam trong thời gian quan, có thể nói rằng vào thời điểm hiện tại và ít nhất trong vòng 20 năm tới, “chiếc bánh dịch vụ pháp lý” tại Việt Nam sẽ vẫn còn đủ lớn cho tất cả các công ty luật Việt Nam.

Điều kiện cần và đủ đã có, tại sao Việt Nam vẫn chưa có công ty luật Việt Nam mang tầm cỡ khu vực?

Trong vô vàn những lý do khác nhau, có thể tóm tắt năm điểm chính cho câu hỏi tại sao Việt Nam vẫn chưa có công ty luật Việt Nam mang tầm cỡ khu vực sau đây:

Vênh kiến thức pháp lý

Do hoàn cảnh khách quan của lịch sử và đời sống chính trị Việt Nam có nhiều thay đổi lớn trong thế kỷ 20, đội ngũ luật sư Việt Nam trên thực tế không có cơ hội được đào tạo kiến thức pháp luật theo một hệ thống pháp luật thống nhất.

Điều này đã tạo nên các điểm vênh về kiến thức pháp luật giữa các thế hệ luật sư Việt Nam.

Theo đó, một bộ phận luật sư là du học sinh tại các nước thuộc Liên Xô cũ, được đào tạo theo hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, hoặc du học ở các nước tư bản phương Tây theo trường phái pháp luật châu Âu lục địa hoặc thông luật, một số khác lại được đào tạo trong nước trước hoặc sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng vào ngày 30/4/1975 hoặc trước thời kỳ đất nước mở cửa cho đầu tư nước ngoài (1986)

trong khi phần đông còn lại là những luật sư trẻ tuổi thế hệ 7x, 8x, 9x được đào tạo trong nước sau thời kỳ mở cửa, tức là được đào tạo theo hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa có định hướng kinh tế thị trường.

Việc hợp tác hành nghề giữa những đối tượng luật sư vừa nêu thường gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt về phương pháp luận, cách tư duy, nhận thức và nhìn nhận đối với từng vấn đề pháp lý.

Đặc thù tính cách Việt Nam

Việt Nam là một đất nước với ba miền tính cách khác nhau. Điều kiện địa lý, môi trường xã hội đã tạo cho con người ở mỗi vùng, miền có những nét đặc thù khá riêng biệt về tính cách.

Sự đặc thù của mỗi miền tính cách như thế đôi khi đã tạo ra những khó khăn không thể dung hòa khi có sự liên doanh, hợp tác, liên kết hành nghề giữa các luật sư. Một số trường hợp chia, tách các công ty luật Việt Nam trong thời gian qua cũng một phần bắt nguồn từ sự sai biệt này.

Phân chia thu nhập chưa hợp lý

Việc phân chia thu nhập chưa hợp lý và công bằng giữa các luật sư thành viên trong công ty luật cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến nhiều cuộc chia, tách các công ty luật Việt Nam trong thời gian qua.

Đặc trưng của nghề luật sư là hoạt động hợp tác mang tính đối nhân, không phải là đối vốn, có nghĩa rằng vốn sẽ không đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra doanh thu và lợi nhuận cho công ty luật.

Thay vào đó, các luật sư thành viên sẽ đóng góp vào hoạt động kinh doanh của công ty luật dựa trên thời gian làm việc, kinh nghiệm tích lũy, danh tiếng của họ và sự tin tưởng của khách hàng.

Do đó, nếu công ty luật áp dụng việc phân chia thu nhập theo tỷ lệ phần trăm vốn góp giống như của các công ty trách nhiệm hữu hạn bình thường hoạt động theo pháp luật về doanh nghiệp thì sẽ không thể phản ánh đúng, đầy đủ và công bằng đối với công sức đóng góp của từng luật sư thành viên trong công ty luật và điều này tất yếu sẽ dẫn đến những tranh chấp nội bộ không đáng có.

Mặc dù hiện tại, một số công ty luật Việt Nam cũng đã bắt đầu áp dụng các phương thức phân chia thu nhập khác nhằm đảm bảo sự công bằng hơn cho các luật sư thành viên nhưng do cách tính thu nhập mới còn khá phức tạp cho nên không được nhiều công ty luật Việt Nam ưa chuộng áp dụng.

Bên cạnh đó, các phần mềm, ứng dụng phục vụ cho việc tính phí dịch vụ pháp lý cho khách hàng và phân chia thu nhập của luật sư có giao diện tiếng Việt lại không có sẵn trên thị trường hay nếu có thì cũng còn khá đắt đỏ cũng như không tương thích với người sử dụng Việt Nam cho nên việc phân chia thu nhập trong các công ty luật Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

Cách hành xử độc lập của luật sư

Độc lập, trung thực và tôn trọng sự thật khách quan là một trong những nguyên tắc chính của công việc hành nghề luật sư.

Tuy nhiên, nguyên tắc này đã bị vận dụng đôi khi nhầm chỗ khi có nhiều luật sư lại có suy nghĩ rằng họ không chỉ hành xử độc lập với tòa án, cơ quan Nhà nước mà cũng cần phải độc lập đối với cả luật sư đồng nghiệp của họ trong quá trình hành nghề luật sư.

Do đó, các luật sư thường có khuynh hướng thích độc lập tác chiến hơn là hợp tác với các luật sư khác trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng.

Nhiều khi nhận được những yêu cầu hỗ trợ pháp lý của khách hàng nhưng không thuộc lĩnh vực pháp luật chuyên môn của mình nhưng họ vẫn âm thầm thực hiện theo tiêu chí vừa làm vừa học thay vì tham khảo ý kiến từ những luật sư có kinh nghiệm khác hay giới thiệu công việc pháp lý của khách hàng đó cho các luật sư khác vì sợ rằng các luật sư khác sẽ chê bai họ là không có đủ kiến thức pháp luật và năng lực chuyên môn.

Từ đó, việc trao đổi hay cập nhật kiến thức pháp luật, trình độ chuyên môn và kỹ năng hành nghề giữa các luật sư đồng nghiệp thường khá hạn chế.

Nghề luật sư chưa được thừa nhận là một nghề kinh doanh dịch vụ hoàn chỉnh

Về bản chất kinh tế, dịch vụ pháp lý của luật sư cũng là một loại dịch vụ kinh doanh tương tự như muôn vàn các loại hình kinh doanh dịch vụ khác.

Tuy vậy, theo quy định, mục đích hoạt động nghề nghiệp của luật sư là góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã hội và pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Quy định này đặt nhẹ yếu tố kinh doanh, cho nên nghề luật sư đã không được khuyến khích kinh doanh với mục đích làm giàu tương tự như các nghề nghiệp khác. Điều này phần nào đã gián tiếp cản trở các luật sư hợp tác với nhau để hình thành các công ty luật Việt Nam tầm cỡ khu vực.

Phải làm gì để mong ước của luật sư trở thành hiện thực?

Để thực hiện được mong ước này, Việt Nam cần có một chiến lược trung và dài hạn, bao gồm những bước đề xuất sau đây:

  • Các công ty luật Việt Nam nên cân nhắc tham gia hợp tác với nhau theo ba giai đoạn như sau cộng tác, hợp tác và sau cùng là tiến tới hợp nhất, sáp nhập để có thể tìm hiểu nhau một cách đầy đủ và toàn diện hơn;
  • Các luật sư Việt Nam cần nâng cao tinh thần tự hào dân tộc trong mỗi người và gạt bỏ cái tôi độc lập của mìn để kết hợp với những luật sư Việt Nam có thế mạnh chuyên môn khác để cùng nhau phát triển;
  • Nhà nước, xã hội và cộng đồng cần thừa nhận và nhìn nhận đúng đắn về tính chất kinh doanh dịch vụ pháp lý của luật sư;
  • Nhà nước cần có các hoạt động hỗ trợ thiết thực thông qua các công cụ quản lý hành chính chẳng hạn như cho miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, cấp học bổng để luật sư được tiếp cận kiến thức pháp luật của các nước tiên tiến trên thế giới,
  • tuyên truyền để cộng đồng, xã hội có cái nhìn tích cực về nghề luật sư cũng như xem xét thay đổi phương thức và nội dung giảng dạy trong các chương trình đào tạo hành nghề luật sư của Học viện tư pháp cho phù hợp hơn với tình hình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước;
  • Các công ty luật cũng cần thảo luận nội bộ và áp dụng một mô hình phân chia lợi nhuận hợp lý nào đó để đảm bảo quyền lợi của từng luật sư thành viên; và
  • Bản thân mỗi luật sư cũng cần nâng cao kiến thức kinh doanh, tài chính để có khả năng vận hành một công ty luật lớn như một tập đoàn kinh tế tầm cỡ khu vực.

Nếu tất cả hay một phần của các cách thức nói trên được thực hiện một cách nghiêm túc, bài bản và đầy đủ, chúng ta có thể hy vọng rằng trong tương lai không xa Việt Nam sẽ có thể chứng kiến nhiều cuộc sáp nhập, hợp nhất giữa các công ty luật Việt Nam hàng đầu hiện nay với hàng trăm luật sư giỏi và chuyên nghiệp ở nhiều lĩnh vực dịch vụ pháp lý chuyên ngành khác nhau

để từ đó cho ra đời các công ty luật Việt Nam mang tầm cỡ khu vực mà có thể cạnh tranh bình đẳng với các công ty luật nước ngoài trên chính sân nhà của mình và từng bước hòa nhập vào sân chơi khu vực và quốc tế, với vị thế ngày càng cao hơn.

Hy vọng rằng chúng ta sẽ có thể cùng nhau thực hiện ước mơ xây dựng những công ty luật Việt Nam hùng mạnh với niềm tin “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên  hòn núi cao”.

Bài viết này của tôi được viết chủ yếu dựa vào những kiến thức pháp luật bao quát mà tôi đã được học ở trường đại học cũng như những kinh nghiệm hành nghề luật sư chuyên sâu của tôi trong gần 25 năm qua.

Nếu bạn thấy rằng những thông tin chia sẻ của tôi ở trên là hữu ích cho việc theo đuổi đam mê với nghề luật sư của bạn, xin hãy ủng hộ tôi bằng một cú click chuột vào website này nhé www.phuoc-partner.com. Cám ơn bạn rất nhiều và chúc bạn thành công chinh phục nghề luật sư của mình. Xin chào bạn.

7 Điều Cần Lưu ý Trước Khi Tìm Luật Sư Tư Vấn


[1] Điều 18.2 và Điều 19.2 Pháp lệnh luật sư năm 2001