Câu hỏi 67: Nếu người thứ ba không biết mà giao dịch với vợ, chồng mà đã có ký thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng dẫn đến việc phát sinh nghĩa vụ đối với tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (nhưng đã được chia theo thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng) thì sẽ được xử lý như thế nào?

357

Vợ chồng có thể lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận dựa trên nguyên tắc tự do, tự nguyện cùng với nhau về việc xác lập và thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với tài sản của họ[1]. Thỏa thuận này có thể được thể hiện dưới dạng văn bản có công chứng, chứng thực: hôn ước, hợp đồng tiền hôn nhân hay thỏa thuận trước hôn nhân, và được lập trước khi kết hôn.

Một trong những nội dung của văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng là: (i) Xác định tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, những tài sản nào được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng; và (ii) Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với các tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình.

Nếu thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng không bị Tòa án tuyên vô hiệu[3] hoặc vợ, chồng không ai có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu thì khi vợ, chồng thực hiện các giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng đã được phân chia trong thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng đều phải tuân thủ các nội dung của văn bản thỏa thuận và phải cung cấp cho những người thứ ba biết về những thông tin liên quan đến sự thỏa thuận này trước khi hai bên ký kết thực hiện giao dịch.

Trong trường hợp vợ, chồng không thực hiện việc thông báo cho những người thứ ba về sự phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, dẫn đến việc thực hiện giao dịch giữa hai bên phát sinh nghĩa vụ trên tài sản chung của vợ chồng đã được phân chia thì trong trường hợp này những người thứ ba được xem là ngay tình và được pháp luật bảo vệ quyền lợi[5].


[1] Điều 47 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

[3] Điều 50.1 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và Điều 5, Điều 6 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13.

[5] Điều 16 Nghị định số 126/2016/NĐ-CP.

Nếu bạn muốn biết thêm thông tin về cách chúng tôi có thể hỗ trợ bạn về các vấn đề về ly hôn, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi theo số điện thoại: +84 (28) 36223522 hoặc email cho chúng tôi tại info@phuoc-partner.com.