Câu hỏi 102: Trong những trường hợp nào thì đương sự được quyền từ chối không giao nộp chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án? Nếu không giao nộp các chứng cứ hay trì hoãn việc giao nộp hay giao nộp không đầy đủ các chứng cứ được Tòa án yêu cầu và không thuộc các trường hợp được quyền từ chối thì người được yêu cầu sẽ bị những chế tài gì?

225

Theo quy định của pháp luật, có hai trường hợp mà Tòa án yêu cầu đương sự phải giao nộp chứng cứ: một là, Tòa án yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của họ là có cơ sở[1]; và hai là, Tòa án tự thu thập chứng cứ hoặc theo đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ của đương sự còn lại[2]. Quyền từ chối cung cấp chứng cứ cũng như hậu quả của việc không nộp chứng cứ, không nộp đầy đủ chứng cứ đối với mỗi trường hợp sẽ khác nhau.

Trường hợp 01: Tòa án yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của đương sự

Trong trường hợp này, việc cung cấp chứng cứ là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của chính đương sự. Do đó, đương sự có thể cung cấp hoặc không cung cấp cho Tòa án là tùy theo khả năng và mục đích của đương sự. Tòa án sẽ không bắt buộc đương sự phải giao nộp hoặc áp dụng các chế tài khi đương sự không giao nộp. Tuy nhiên, hậu quả của việc không cung cấp, không cung cấp đầy đủ hoặc đúng hạn các chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì Tòa án sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập để giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án có thể bác các yêu cầu của đương sự nếu xét thấy không có căn cứ hoặc chấp thuận các yêu cầu của phía bên kia.

Trường hợp 2: Tòa án yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ khi Tòa án tự mình thu thập chứng cứ hoặc do có yêu cầu của đương sự khác đề nghị Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ

Tòa án có quyền yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ trong hai trường hợp: Một là, khi vợ hoặc chồng của đương sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ cho họ mà đương sự không cung cấp, vì vậy người này có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ. Hai là, Tòa án xét thấy cần thiết và tự mình yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ. Trong những trường hợp này, việc cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án là nghĩa vụ bắt buộc của đương sự. Tòa án sẽ ra văn bản về việc yêu cầu đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ và đương sự có nghĩa vụ cung cấp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của Tòa án[5]. Hiện nay, không có trường hợp nào cho phép đương sự trong vụ án ly hôn từ chối không nộp chứng cứ trong trường hợp trên, kể cả trường hợp chứng cứ có liên quan đến bí mật Nhà nước, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân. Theo Điều 109.2 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, trong những trường hợp như vậy, Tòa án chỉ không công khai chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, nghĩa là đương sự vẫn phải giao nộp các chứng cứ theo yêu cầu cho Tòa án.

Mặc dù đương sự không có quyền từ chối không nộp chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án nhưng Tòa án vẫn có thể chấp nhận việc không giao nộp chứng cứ của đương sự mà không áp dụng chế tài trong trường hợp đương sự không thể giao nộp nếu có lý do chính đáng. Chẳng hạn, đương sự không thể giao nộp được do chứng cứ bị mất, bị hủy hoặc đương sự không trực tiếp quản lý. Điều kiện ở đây là lý do chính đáng đó phải được Tòa án chấp nhận, nếu không thì đương sự sẽ có thể phải chịu các chế tài theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp đương sự không nộp, trì hoãn việc nộp hoặc nộp không đầy đủ chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong trường hợp ở trên mà không có lý do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, đương sự có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Hành vi đó có thể cấu thành vi phạm: Xử lý hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của người tiến hành tố tụng[7] và bị xử lý theo quy định của pháp luật và phải chịu mức phạt dao động từ 01 đến 03 triệu đồng[8].


[1] Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[2] Điều 106.3 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[5] Điều 106.3 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[7] Điều 489.3 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[8] Điều 1.40 Nghị định 67/2015/NĐ-CP.

Nếu bạn muốn biết thêm thông tin về cách chúng tôi có thể hỗ trợ bạn về các vấn đề về ly hôn, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi theo số điện thoại: +84 (28) 36223522 hoặc email cho chúng tôi tại info@phuoc-partner.com.