Câu hỏi 95: Trong vụ án ly hôn, nếu có những thông tin, tài liệu quan trọng có liên quan đến việc giải quyết vụ án mà không phải do nguyên đơn là vợ hoặc chồng cung cấp cho Tòa án và cũng không phải do Tòa án tự thu thập được thì có được xem là chứng cứ để Tòa án xem xét không?

203

Chứng cứ trong vụ án ly hôn được định nghĩa tại Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Theo đó, chứng cứ là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục luật định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp. Qua đó có thể thấy, chứng cứ không chỉ do nguyên đơn cung cấp hay Tòa án tự thu thập mà còn do các đương sự khác hoặc các tổ chức, cá nhân khác giao nộp cho Tòa án. Bên cạnh nguyên đơn, chứng cứ còn có thể được giao nộp cho Tòa án bởi những chủ thể sau:

  1. Bị đơn trong vụ án ly hôn

Bị đơn trong vụ án ly hôn chính là người chồng hoặc vợ bị người kia khởi kiện vụ án ly hôn. Quyền và nghĩa vụ của bị đơn gần như tương đương với nguyên đơn trong cùng vụ án ly hôn. Vì vậy, bị đơn cũng có quyền để giao nộp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho các yêu cầu của mình là có căn cứ. Do đó, khi có các thông tin, tài liệu được bị đơn cung cấp thì Tòa án phải xem xét như khi được nguyên đơn giao nộp hoặc do Tòa án tự thu thập.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án ly hôn là người không phải là vợ hoặc chồng trong vụ án nhưng việc giải quyết vụ việc dân sự có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc họ được vợ hoặc chồng đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng trong vụ án lý hôn với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan[1]. Những người này thường có liên quan đến vấn đề chia tài sản hoặc các nghĩa vụ tài sản chung của vợ chồng. Chẳng hạn, họ có thể là chủ nợ của các khoản nợ chung của vợ chồng, hoặc là người đi vay hoặc có nghĩa vụ tài sản khác đối với vợ chồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án ly hôn cũng là đương sự trong vụ án ly hôn. Do đó, họ cũng có quyền giao nộp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho các yêu cầu của họ với Tòa án và Tòa án phải xem xét những chứng cứ này[3].

3. Các cá nhân khác khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình

Hiện nay, quyền khởi kiện vụ án ly hôn không chỉ thuộc về vợ hoặc chồng. Trong trường hợp vợ hoặc chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng hoặc vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ thì cha, mẹ hoặc người thân thích khác của họ có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn[5]. Lúc này, người tiến hành khởi kiện có quyền và nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ[6]. Do đó, Tòa án có trách nhiệm xem xét các thông tin, chứng cứ họ cung cấp trong trường hợp này.

Vì vậy, đối với các trường hợp trên, mặc dù các thông tin, tài liệu quan trọng có liên quan đến vụ án không do nguyên đơn cung cấp hoặc Tòa án tự thu thập nhưng Tòa án vẫn có trách nhiệm xem xét, đánh giá đầy đủ.


[1] Điều 68.6 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[3] Điều 70.5 Bộ luật Tố tụng dân sự 201.

[5] Điều 51.2 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

[6] Điều 91.3 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Nếu bạn muốn biết thêm thông tin về cách chúng tôi có thể hỗ trợ bạn về các vấn đề về ly hôn, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi theo số điện thoại: +84 (28) 36223522 hoặc email cho chúng tôi tại info@phuoc-partner.com.